mở đầu (tạo tình huống xuất phát): Mục đích: Tạo tâm thế học tập cho HS, giúp HS ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú học bài mới. GV sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm của bản thân HS có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong SGK, các tài liệu học tập; làm bộc lộ “cái” HS đã biết, bổ khuyết những gì cá nhân HS còn thiếu, giúp HS nhận ra “cái” chưa biết và muốn biết thông qua hoạt động này. Từ đó, giúp HS suy nghĩ và bộc lộ những quan niệm của mình về vấn đề sắp tìm hiểu, học tập. Vì vậy, các câu hỏi/ nhiệm vụ trong các hoạt động này là những câu hỏi/ vấn đề mở, không cần có câu trả lời hoàn chỉnh.
Kết thúc hoạt động này, GV không chốt về nội dung kiến thức mà chỉ giúp HS phát biểu được vấn đề để HS chuyển sang các hoạt động tiếp theo nhằm bổ sung những kiến thức, kĩ năng mới, qua đó tiếp tục hoàn thiện câu trả lời hoặc giải quyết được vấn đề. Cách tiến hành: Thông qua các câu hỏi/ tình huống có vấn đề để HS huy động kiến thức, kĩ năng có liên quan, suy nghĩ, trả lời các câu hỏi gợi mở hoặc đưa ra ý kiến nhận xét về những vấn đề có liên quan đến nội dung sẽ học (băn khoăn, dự đoán tình huống sẽ xảy ra, dự đoán câu trả lời,. GV sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm của bản thân HS có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong bài học/ chủ đề. Câu hỏi cần giải quyết cho các hoạt động này: Tình huống/ câu hỏi/ lệnh xuất phát nhằm huy động kiến thức/ kĩ năng/ kinh nghiệm sẵn có nào của HS (HS đã học kiến thức/ kĩ năng đó khi nào?).
Vận dụng kiến thức/ kĩ năng/ kinh nghiệm đã có đó thì HS có thể trả 20 lời câu hỏi/ thực hiện lệnh đã nêu đến mức độ nào? Dự kiến các câu trả lời/ sản phẩm học tập mà HS có thể hoàn thành. Để hoàn thiện câu trả lời/ sản phẩm học tập nói trên, HS cần vận dụng kiến thức/ kĩ năng mới nào sẽ học ở phần tiếp theo trong Hoạt động hình thành kiến thức (có thể không phải là toàn bộ kiến thức/ kĩ năng mới trong bài). – Với các hoạt động khám phá để hình thành kiến thức, kĩ năng, giá trị: Mục đích: Giúp HS chiếm lĩnh kiến thức, tìm hiểu biểu hiện của chuẩn mực hành vi, sự cần thiết và cách thực hiện chuẩn mực hành vi đó cũng như mô hình của kĩ năng, biểu tượng lõi của giá trị. Trên cơ sở các kiến thức, kĩ năng mới, HS sẽ thay đổi những quan niệm chưa đúng, bổ sung những quan niệm chưa đầy đủ về vấn đề liên quan đến nội dung học tập nhằm hình thành nền tảng của phẩm chất và năng lực tương ứng.
Cách tiến hành: Đối với việc tìm hiểu biểu hiện của chuẩn mực hành vi, GV tổ chức, hướng dẫn, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để hướng dẫn HS tìm hiểu mẫu hành vi thông qua các hoạt động như: đọc SGK, nghiên cứu tư liệu học tập, sử dụng học liệu; tự nghiên cứu, thực hành, hoạt động trải nghiệm;… Sau các hoạt động, GV cần hướng dẫn để HS tự kết luận về biểu hiện của chuẩn mực hành vi đạo đức, kĩ năng sống, pháp luật và kinh tế mà các em tiếp nhận được thông qua các hoạt động. Đối với hoạt động tìm hiểu sự cần thiết thực hiện chuẩn mực hành vi, GV có thể sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi hoặc thảo luận nhóm để HS chia sẻ, trao đổi với các bạn trong nhóm và GV. Đối với hoạt động tìm hiểu cách thực hiện chuẩn mực hành vi, GV cần giảng giải tỉ mỉ về các bước thực hiện và làm mẫu, sau đó, tổ chức cho HS hoạt động bắt chước theo mẫu ở nhiều dạng thức khác nhau. Ngoài ra, GV cũng có thể sử dụng các bài tập, câu hỏi, tình huống phù hợp để HS tự khám phá và tích cực trao đổi, suy nghĩ và cân nhắc, đúc kết kinh nghiệm.
Câu hỏi cần giải quyết cho các hoạt động này: Kiến thức mới mà HS phải chiếm lĩnh được của bài học là gì? HS sẽ chiếm lĩnh kiến thức đó bằng cách nào? Cụ thể là HS phải thực hiện các hành động (đọc/ nghe/ nhìn/ làm) gì? Qua hành động (đọc/ nghe/ nhìn/ làm), HS thu được kiến thức gì? Kiến thức đó giúp cho việc hoàn thiện câu trả lời/ sản phẩm học tập ở hoạt động khởi động như thế nào? Nếu có lệnh/ câu hỏi trong các hoạt động khám phá thì cần làm rõ: Lệnh/ câu hỏi đó có liên hệ thế nào với lệnh/ câu hỏi ở hoạt động khởi động hay không? Câu trả lời/ sản phẩm học tập mà HS phải hoàn thành là gì? HS sử dụng kiến thức nào để trả lời câu hỏi/ thực hiện lệnh đó? 21 – Với các hoạt động luyện tập: Mục đích: Giúp HS được hoàn thiện hiểu biết; củng cố, kiểm nghiệm các kiến thức, kĩ năng đã chiếm lĩnh được, hình thành thái độ đúng đắn trước các hành vi đạo đức, kĩ năng sống, pháp luật và kinh tế; đồng thời, GV biết được mức độ hiểu biết/ lĩnh hội kiến thức của HS để điều chỉnh các hoạt động dạy học. Thái độ là cơ sở của hành vi nên việc tổ chức hoạt động này rất cần thiết. Thông qua hoạt động này, HS hình thành được thái độ đồng tình, ủng hộ các hành vi tích cực; không đồng tình, phê phán các hành vi tiêu cực. Cách tiến hành: Đây là hoạt động HS phải vận dụng những hiểu biết đã học vào giải quyết các bài tập/ tình huống cụ thể tương tự các bài tập/ tình huống đã học nhưng có thay đổi các dữ liệu ban đầu để củng cố tri thức.
GV có thể tổ chức, hướng dẫn cho HS tham gia các hoạt động như: liên hệ với các sự vật, hiện tượng, sự kiện, đối tượng, tình huống trong đời sống thực tế xung quanh mà các em biết; liên hệ với những thái độ, hành vi của chính bản thân mình hoặc của người khác; nhận xét thái độ, hành vi của bản thân hoặc người khác; xử lí tình huống; bày tỏ thái độ với các ý kiến liên quan;… để từ đó, các em củng cố kiến thức, kĩ năng và hình thành thái độ tích cực cho bản thân. Câu hỏi/ bài tập/ tình huống/ nhiệm vụ được sử dụng trong hoạt động luyện tập cần phải phù hợp với nội dung bài học, đặc điểm tâm sinh lí, khả năng, điều kiện học tập và thực tế cuộc sống của HS. HS có thể được hướng dẫn hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm để hoàn thành các câu hỏi, bài tập, bài thực hành,… Câu hỏi cần giải quyết cho các hoạt động này: Nêu rõ mục đích của mỗi câu hỏi/ bài tập luyện tập trong bài học. Cụ thể là câu hỏi/ bài tập đó nhằm hình thành/ phát triển kĩ năng nào? (Nếu có nhiều hơn một câu hỏi/ bài tập cho việc hình thành/ phát triển một kĩ năng, cần giải thích tại sao?).
– Với các hoạt động vận dụng: Mục đích: HS được củng cố kiến thức, kĩ năng, tăng cường ý thức và năng lực thường xuyên vận dụng những điều đã học được để phát hiện và giải quyết các vấn đề có thực trong học tập và trong cuộc sống; có ý thức tự tìm hiểu, mở rộng kiến thức, thói quen điều chỉnh hành vi, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật. Hoạt động này đồng thời còn giúp GV đánh giá được mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của HS về phẩm chất và năng lực. Cách tiến hành: HS vận dụng tri thức của bản thân, bao gồm: những kiến thức, kĩ năng (vừa chiếm lĩnh được), kinh nghiệm của bản thân đã được tích luỹ trong nhiều tình huống tương tự để làm các bài tập lí thuyết, bài tập thực hành, giải các bài tập/ tình huống mô phỏng thực tế cuộc sống trong và ngoài nhà trường hoặc nêu phương án giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống. 22 Trong các hoạt động vận dụng và mở rộng, cần chú trọng các hoạt động rèn luyện thói quen thực hiện chuẩn mực hành vi.
Để giúp HS thực hành, rèn luyện thói quen thực hiện theo chuẩn mực hành vi, GV cần chú trọng tổ chức các hoạt động xử lí tình huống thực tiễn, giúp HS thực hành chuẩn mực hành vi bằng nhiều hình thức như trình bày, báo cáo trước lớp; đóng vai để giải quyết tình huống;… Thông qua việc tham gia các hoạt động xử lí tình huống, HS được tự mình trải nghiệm. Tri thức, thái độ và hành vi nhờ đó được hình thành, phát triển một cách bền vững hơn. Các hoạt động rèn luyện thói quen thực hiện chuẩn mực hành vi cần được tổ chức phù hợp với điều kiện sống và học tập của HS. GV cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều HS tham gia một cách tự nguyện; khuyến khích những HS có sản phẩm chia sẻ với các bạn trong lớp.
Thông qua các nguồn tài liệu như: sách/ tài liệu tham khảo bằng bản in hoặc Internet; các bản báo cáo, thuyết trình; các sự kiện, hiện tượng, nhân vật, tình huống, trường hợp mà các em đã biết trong thực tế cuộc sống;… HS làm bài tập nghiên cứu, trao đổi, thảo luận, hợp tác với các bạn trong nhóm, trong lớp, GV, gia đình và những người khác trong cộng đồng để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế giải quyết vấn đề, ứng dụng các kiến thức đã học. HS có thể tự đưa ra những tình huống, bài tập và giải quyết theo cách riêng của mình hoặc trao đổi trong cặp đôi, trong nhóm, thống nhất cách làm chung, tìm giải pháp, kết quả chung; báo cáo kết quả trước lớp hoặc GV. Câu hỏi cần giải quyết cho các hoạt động này: HS được yêu cầu vận dụng kiến thức vào giải quyết một điều gì trong cuộc sống? Cần thay đổi gì trong hành vi, thái độ của bản thân HS? Đề xuất với gia đình, bạn bè,… thực hiện điều gì trong học tập/ cuộc sống? HS được yêu cầu đào sâu/ mở rộng thêm gì về những kiến thức có liên quan đến bài học? Lịch sử hình thành kiến thức? Thông tin về các nhà khoa học tìm ra kiến thức? Những ứng dụng của kiến thức trong đời sống, kĩ thuật? HS cần trình bày/ báo cáo/ chia sẻ các kết quả hoạt động nói trên như thế nào? Dưới hình thức nào?