phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về biện pháp kê biên tài sản trong tố tụng hình sự Chƣơng 2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp kê biên tài sản Chƣơng 3. Thực tiễn và áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong tố tụng hình sự, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện.
6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của biện pháp kê biên tài sản trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm biện pháp kê biên tài sản trong tố tụng hình sự Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản (KBTS), phong tỏa tài khoản1. Trong đó, biện pháp KBTS đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bị can, bị cáo gây khó khăn cho hoạt động thi hành án hình sự.
Nghiên cứu quy định của pháp luật có thể thấy vấn đề KBTS đã được quy định khá phổ biến trong các lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, khoản 6 Điều 114 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định “KBTS đang tranh chấp” là một biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo quản chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, khoản 3 Điều 71 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định “KBTS của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ” là một biện pháp để cưỡng chế thi hành án. Trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính, KBTS được quy định là một biện pháp cưỡng chế hành chính để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khi cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt với tên gọi “KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá”2.
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 128 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) lại quy định KBTS là một biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt 1 Điều 126 BLTTHS năm 2015. 2 Điều 86 Luật XLVPHC năm 2012. 7 hại hoặc được áp dụng với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại. Mặc dù KBTS đã được nhiều ngành luật, trong đó có luật tố tụng hình sự quy định khá rõ ràng, tuy nhiên nghiên cứu một cách kỹ lưỡng thì không thấy có một quy định nào giải thích thuật ngữ “KBTS” là gì.
Thiếu sót này đã gây ra nhiều khó khăn trong việc giải thích và vận dụng các quy định pháp luật có liên quan trong thực tiễn. Ở góc độ ngôn ngữ, theo định nghĩa của Giáo sư Nguyễn Lân trong Từ điển Từ và ngữ Việt Nam thì “kê biên” (kê: tính toán, biên: chép theo thứ tự) là việc ghi lại mọi thứ theo thứ tự3. Theo cách giải thích này, thuật ngữ kê biên chỉ mới được xem xét ở góc độ ghi ghép, kê khai tài sản một cách thông thường chứ chưa nêu ra được đặc trưng, bản chất của hoạt động kê biên dưới góc độ pháp lý. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ học, “kê biên” là kê ra danh mục tài sản có liên quan đến hành vi tội phạm để chờ xử lý theo pháp luật.
Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Đại học Luật Hà Nội thì giải thích “kê biên” là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án4. Cách giải thích trong các thuật ngữ này bên cạnh thể hiện hình thức của việc kê biên đã đề cập đến tính chất pháp lý của hoạt động này. Tuy nhiên, các thuật ngữ này chỉ đề cập thuật ngữ “kê biên” dưới góc độ pháp luật hình sự mà chưa bao quát được các lĩnh vực pháp luật khác như thi hành án dân sự, xử lý vi phạm hành chính. Về mặt thuật ngữ, Từ điển Tiếng việt phổ thông định nghĩa “tài sản” là của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu5.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “tài sản” là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng6. Theo giải thích của Từ điển Bách khoa toàn thư, “KBTS” là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với tài sản của người vi phạm pháp luật7. So với các giải thích nêu trên, cách giải thích này có tính bao quát nhất bởi không chỉ thể hiện về mặt hình thức mà còn thể hiện tính chất pháp lý cũng như sự bao quát các lĩnh vực pháp luật của hoạt động KBTS. 3 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb.
Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb. Công an nhân dân, tr. 5 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb phương Đông, tr.
6 Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa – Thông tin, tr. 7 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam - Tập 2, Nxb Từ điển bách khoa, tr. 8 Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm KBTS trong luật tố tụng hình sự như sau:“KBTS trong tố tụng hình sự một trong những biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự đối với tài sản của bị can, bị cáo phạm những tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm b i thường thiệt hại thông qua việc các cơ quan có thẩm quyền thực hiện kê khai, ghi lại từng loại tài sản, giao cho chủ tài sản hoặc thân nhân bảo quản, nghiêm cấm việc tẩu tán, phá hủy nhằm bảo đảm cho việc xét xử, thi hành án và việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý nhất định”.
KBTS của bị can, bị cáo là việc tạm thời cấm giao dịch, chuyển đổi, định đoạt hoặc dịch chuyển tài sản của họ. Đây là biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với cá nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để đảm bảo bồi thường thiệt hại. Khi KBTS, chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc phải bồi thường thiệt hại. Điều này có nghĩa các cơ quan có thẩm quyền sẽ kê biên đủ để phục vụ cho hoạt động thi hành án sau này dựa trên phán quyết của Tòa án về hình phạt tiền, tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại để hạn chế tình trạng lạm dụng kê biên, tùy tiện khi kê biên ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và những người có liên quan đến tài sản bị kê biên.
Đặc điểm của biện pháp kê biên tài sản trong tố tụng hình sự Từ khái niệm về biện pháp KBTS đã được trình bày ở trên, có thể đưa ra các đặc điểm của biện pháp này như sau: Thứ nhất, KBTS là một biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. Cưỡng chế trong tố tụng hình sự là tổng thể các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định, được cơ quan, người được trao quyền áp dụng theo thủ tục tố tụng hình sự, có nội dung hạn chế quyền tài sản của bị can, bị cáo buộc các chủ thể đó phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn hoặc xử lý những hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội8. KBTS là một trong những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 128 BLTTHS năm 2015. Biện pháp này được các chủ thể có thẩm quyền áp dụng để cưỡng chế đối với tài sản của bị can, bị cáo để buộc họ phải thi hành án hình sự.
Thứ hai, đối tượng bị áp dụng biện pháp KBTS là bị can, bị cáo phạm các tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo 8 Hoàng Thị Minh Sơn (2009) (chủ biên), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 9 đảm bồi thường thiệt hại; pháp nhân bị khởi tố, truy tố xét xử về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền, bồi thường thiệt hại. Các bị can, bị cáo phạm tội mà BLHS không quy định hình phạt tiền hoặc không bị tịch thu tài sản hoặc không buộc phải bồi thường thiệt hại thì không phải đối tượng áp dụng của biện pháp này. Bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng không thuộc đối tượng áp dụng của biện pháp này.
Thứ ba, biện pháp KBTS được áp dụng với tài sản của bị can, bị cáo phạm tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, bồi thường thiệt hại. Hay hiểu cách khác, để việc thi hành án được thuận lợi, biện pháp KBTS áp dụng đối với đối tượng là tài sản của người phải thi hành án. Tài sản đó có thể đang do người phải thi hành án hoặc do người khác chiếm giữ. KBTS được áp dụng nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo sự bền vững trong các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ.
Khi Tòa án ra bản án có hiệu lực thi hành, các tài sản đã kê biên trước đó có thể được dùng làm tài sản để thi hành án. Thứ tư, tài sản bị kê biên phải có giá trị tương đương với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại.