Phần mở đầu” và “Kết luận”, luận văn gồm 4 chƣơng: CHƢƠNG 1 : Tổng quan và Lý luận chung về “Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng” (IPO) CHƢƠNG 2 : Phƣơng pháp nghiên cứu CHƢƠNG 3 : Thực trạng hoạt động IPO tại Việt Nam CHƢƠNG 4 : Giải pháp tăng hiệu quả hoạt động IPO tại Việt Nam 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÀO BÁN CỔ PHIẾU LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG (IPO) 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu liên quan - Trong luận án “Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc định dƣới giá cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM”- NCS Ths Thân Thị Thu Thủy, Lê Văn Lâm, Trương Thị Mỹ Xuyên đã đƣa ra kết quả nghiên cứu nhƣ sau : bằng cách điều tra 31 đợt IPO các doanh nghiệp đã niêm yết tại HOSE giai đoạn 2003 – 2012 thì mức độ định dƣới giá trung bình lần lƣợt là 12,27%, 10,09% và 8,83% cho ngày giao dịch đầu tiên, thứ hai và thứ ba.
Nhóm nghiên cứu đã xem xét mối quan hệ giữa mức độ định dƣới giá và một tập hợp các biến giải thích giả thuyết là có tác động đến mức độ định dƣới giá. Dựa trên kết quả phân tích hồi quy đa biến, có thể kết luận có bốn nhân tố tác động mạnh lên mức độ định dƣới giá các doanh nghiệp đã niêm yết trên HOSE là: Độ trễ niêm yết (Del), giá chào bán (Price), thời gian hoạt động của doanh nghiệp (Age) và quy mô đợt IPO (Osize). Các nhân tố này có ý nghĩa thống kê và có tác động đối với mức độ định dƣới giá (MAR 1, 2 và 3). Các biến giải thích khác là mức vốn giữ lại (Capret), tỷ lệ mua vƣợt mức (Over) và quy mô doanh nghiệp (Fsize) dƣờng nhƣ không có bất kỳ tƣơng quan nào với mức độ định dƣới giá.
Cuối cùng, có thể thấy sự tham gia của biến kiểm soát về thời điểm IPO của doanh nghiệp trƣớc hay sau năm 2007 đã không có bất kỳ vai trò gì trong việc làm giảm mức độ bất cân xứng thông tin cũng nhƣ sự không chắc chắn xung quanh vấn đề IPO. - Luận án “Nghiên cứu thực nghiệm về Hiệu quả tài chính trong dài hạn của doanh nghiệp sau khi Niêm yết tại thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”- NCS. Dương Thị Chi cũng đã chỉ ra hiệu quả tài chính của một công ty là hệ thống các chỉ tiêu đóng vai trò quan trọng đối với các bên liên quan nhƣ các nhà đầu tƣ, nhà quản lý, chủ nợ, … trong việc ra các quyết định kinh doanh hoặc đầu tƣ. Do vậy, hiệu quả tài chính là một chủ đề nghiên cứu thu hút đƣợc sự quan tâm của khá nhiều 4 học giả, đặc biệt đƣợc nghiên cứu trong các sự kiện của công ty nhƣ các đợt phát hành cổ phiếu: Phát hành lần đầu (IPO); hoặc phát hành bổ sung (SEO) Trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trong giai đoạn 2009-2017 bao gồm 189 công ty niêm yết.
Với hiệu suất cổ phiếu dài hạn đƣợc tính cho các 3 giai đoạn sau niêm yết, với các công ty niêm yết tại năm 2017 sẽ không có đủ số liệu để tính CAR36, nghiên cứu loại bỏ 28 công ty niêm yết tại năm 2017, mẫu nghiên cứu còn lại là 161 quan sát. Đánh giá theo khía cạnh hiệu quả tài chính - đo lƣờng bằng chỉ tiêu lợi nhuận (ROE) bằng chứng cho thấy rằng hiệu quả tài chính (ROE) đƣợc tìm thấy cao nhất tại các năm trƣớc niêm yết và năm sau niêm yết, và sau đó giảm trong các năm tiếp theo, đặc biệt là trong năm thứ hai sau niêm yết sẽ có giá trị thấp nhất. Theo nhƣ hiệu quả tài chính – đo lƣờng dựa trên thông tin thị trƣờng (CAR). Kết quả thu đƣợc từ các kiểm định cho hiệu quả tài chính - hiệu suất cổ phiếu (CAR) cho thấy mức kém hiệu quả tài chính sau niêm yết và mức độ thể hiện giảm dần qua các giai đoạn nắm giữ, đạt mức kém hiệu quả nhất vào giai đoạn nắm giữ thứ 3.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra Thứ nhất, kết quả từ nghiên cứu này có thể giúp các nhà đầu tƣ đánh giá rủi ro liên quan đến công ty niêm yết mới và cải thiện quyết định đầu tƣ của họ. Tiếp theo, với hiệu suất cổ phiếu giảm trong dài hạn sau niêm yết, nhà đầu tƣ cần cân nhắc việc nắm giữ cổ phiếu ngắn hạn hoặc dài hạn để có đƣợc lợi ích tốt nhất. Thứ hai, kết quả nghiên cứu cũng thông báo cho các nhà quản lý rằng họ nên cải thiện giám sát và kiểm soát để giảm mức độ bất cân xứng thông tin và tăng cƣờng tính minh bạch và chất lƣợng trong báo cáo tài chính của các công ty sau niêm yết để bảo bảo cho lợi ích của các nhà đầu tƣ. - Luận văn Thạc sỹ “Ảnh hƣởng của sự kiện IPO đến tỷ lệ nợ sử dụng trong cấu trúc vốn của các công ty niêm yết Việt Nam trong những năm sau IPO”- Nguyễn Thị Hồng Hà.
Bài luận văn này đƣợc thực hiện với mục tiêu nghiên cứu về ảnh hƣởng của sự kiện IPO đến tỷ lệ nợ sử dụng trong cấu trúc vốn của các công ty niêm yết tại Việt Nam trong những năm sau khi IPO. Tác giả sử dụng dữ liệu bảng 5 đƣợc trích xuất từ các báo cáo tài chính của 275 công ty cổ phần thuộc các ngành1 khác nhau đƣợc niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2019. Bài nghiên cứu lần lƣợt sử dụng các phƣơng pháp: Bình phƣơng nhỏ nhất (OLS), mô hình Tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình Tác động cố định (FEM), phƣơng pháp Bình phƣơng tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) và phƣơng pháp Hồi quy tổng quát (GMM) để kiểm định tính vững cho kết quả nghiên cứu. Bài nghiên cứu đã trƣng ra bằng chứng cho thấy, mặc dù các công ty đã phát hành cổ phiếu ra công chúng và có khả năng phát hành thêm nhiều vốn cổ phần sau thời điểm IPO nhƣng các công ty vẫn duy trì đƣợc tỷ lệ nợ so với năm IPO đối với cả đòn bẩy tài chính theo giá trị sổ sách và đòn bẩy tài chính theo giá trị thị trƣờng.
Bên cạnh đó, tác giả còn tìm thấy bằng chứng, sau thời điểm IPO, các công ty có quy mô lớn thƣờng có xu hƣớng gia tăng đòn bẩy tài chính cho doanh nghiệp mình để tận dụng lợi thế từ quy mô và các công ty thuộc ngành có trung vị đòn bẩy tài chính cao có xu hƣớng sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Ngoài ra, những công ty đƣợc thị trƣờng định giá cao sau IPO, có khả năng sinh lợi tốt và có giá trị tài sản hữu hình cao thƣờng giảm sử dụng đòn bẩy tài chính. Cuối cùng, kết quả nghiên cứu cho thấy, sau khi IPO, các doanh nghiệp ở Việt Nam đã có những động thái điều chỉnh tỷ lệ nợ của doanh nghiệp mình hƣớng đến tỷ lệ nợ mục tiêu nhằm tối đa hóa giá trị cho công ty thông qua tốc độ điều chỉnh tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp trung bình đạt 9,7%. - Luận án tiến sĩ “Các yếu tố ảnh hƣởng đến thành công khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng tại Việt Nam”- TS Dương Như Hùng đã chỉ ra dựa trên thống kê của Sở Giao dịch chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, doanh nghiệp sách các doanh nghiệp tiến hành đấu giá lần đầu tiên trong giai đoạn 2008 - 2013 đƣợc thu thập. kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ đặt mua cao nhất và quy mô IPO có tác động tiêu cực đến tỷ lệ mua nhƣng không ảnh hƣởng đến tỷ lệ giá. Tỷ lệ nƣớc ngoài đƣợc mua ảnh hƣởng tiêu cực và chỉ số vn-index ảnh hƣởng tích cực đến tỷ lệ bán. 6 Về cơ bản, Hiện nay các thƣơng vụ IPO trên thế giới đƣợc thực hiện theo ba phƣơng thức bao gồm: Chào bán với giá cố định (Fixed-price offering), Dựng sổ (Book building) và Đấu giá (Auction).
Trên thực tế, hiện nay một số nƣớc thƣờng tiến hành kết hợp hai hoặc nhiều phƣơng thức khác nhau để đem lại hiệu quả tối ƣu cho một thƣơng vụ IPO. - Nghiên cứu “Việt Nam không có tiệc IPO” trong hội thảo IPAG Business School Paris và AVSE Global. - TS Võ Đình Trí đã chỉ ra những nội dung sau: Báo cáo xu hƣớng IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng) toàn cầu mới nhất của EY cho thấy số lƣợng và giá trị các thƣơng vụ IPO 6 tháng đầu năm 2021 đạt kỷ lục trong vòng 20 năm trở lại đây. Một trong những lý do quan trọng thôi thúc các doanh nghiệp IPO là nhiều chỉ số chứng khoán trên thế giới tăng mạnh từ quý 2/2020.
Trong sáu tháng đầu năm 2021, ở Việt Nam chỉ sôi động một chút sự kiện IPO và sau đó lên sàn của một công ty dịch vụ bất động sản. Nhƣng theo ghi nhận của EY, thì Việt nam không có IPO nào. Trong khi đó, các nƣớc khu vực ASEAN nhƣ Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Singapore và Philippines đều ghi nhận các thƣơng vụ IPO, tổng cộng là 54 IPOs với giá trị là 5 tỷ USD. Trong số này, phải kể đến 2 IPO đình đám ở Thái Lan và 1 IPO lớn nhất trong lịch sử của Philippines.
Đề tài đƣa ra lý do IPO ở Việt Nam chƣa sôi động vì: Lý do đầu tiên là không có doanh nghiệp mới với mô hình kinh doanh độc đáo, có tiềm năng tăng trƣởng cao dù trong bối cảnh dịch bệnh. Lý do thứ hai là nguồn cung cổ phiếu từ những doanh nghiệp đã niêm yết đƣợc dự báo là rất lớn. Lý do thứ ba là sức hút của thị trƣờng Việt nam so với thế giới đã bị giảm lại. Theo TS Võ Đình Trí các doanh nghiệp IPO có khả năng thành công cao trong giai đoạn này thƣờng nằm trong lĩnh vực công nghệ, y tế, hay công nghiệp.
Trƣớc đây, một doanh nghiệp ô tô của Việt Nam cũng đã đánh tiếng sẽ IPO ở thị trƣờng Mỹ thông qua SPAC. Các doanh nghiệp muốn IPO trong giai đoạn này và sắp tới cũng cần quan tâm nhiều hơn đến các rủi ro địa chính trị, rủi ro môi trƣờng pháp 7 lý, các yêu cầu về ESG cũng nhƣ các lựa chọn khác nhau trong việc IPO trực tiếp hay gián tiếp qua SPAC, niêm yết cửa sau, hay chọn phƣơng thức tài trợ tài chính khác nhƣ là huy động vốn không công khai (private capital), phƣơng án vay (debt).