CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài [1] Mazars, 2008. The IFRS for SMEs accounting standard: perceptions and expectations across Europe Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn qua điện thoại từ ngày 4 tháng 9 đến ngày 5 tháng 10 năm 2007 nhằm mục đích khảo sát nhận thức của 1593 SMEs ở 6 quốc gia thuộc EU gồm Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha và Anh về quá trình hội tụ chuẩn mực kế toán quốc gia với IFRS for SMEs, trong đó khảo sát 293 công ty ở Pháp, 290 công ty ở Đức, 245 ở Italia, 245 ở Hà Lan, 230 ở Tây Ban Nha và 290 công ty ở Vương quốc Anh. Kết quả thống kê mô tả dữ liệu khảo sát cho thấy hầu hết SMEs đều cho rằng cần có IFRS for SMEs, trong đó ở Tây Ban Nha và Hà Lan có hơn 90% công ty nhỏ và vừa ủng hộ mạnh mẽ việc áp dụng IFRS for SMEs. Lý do SMEs ủng hộ IFRS for SMEs vì các công ty này cho rằng việc áp dụng IFRS sẽ tạo ra một bộ chuẩn mực chung cho toàn Châu Âu, thuận lợi cho việc so sánh thông tin trên báo cáo tài chính, tạo điều kiện cung cấp thông tin hữu ích và thuận tiện hơn trong việc quản lý.
Các công ty nhỏ và vừa ở Ý còn cho rằng việc áp dụng IFRS for SMEs còn có thể có tác dụng xuyên quốc gia và làm gia tăng nguồn khách hàng tiềm năng khi hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư ở nước ngoài. Các công ty nhỏ và vừa ở Tây Ban Nha thì khẳng định lợi ích trong việc áp dụng IFRS for SMEs sẽ cao hơn những khó khăn và thách thức từ việc vận dụng chuẩn mực này mang lại. Kết quả nghiên cứu này cũng đưa ra kết luận quy mô doanh nghiệp không có ảnh hưởng đến nhu cầu cần IFRS for SMEs. Tất cả các doanh nghiệp ở các quốc gia được khảo sát đều có nhu cầu áp dụng IFRS for SMEs không phân biệt quy mô lớn, nhỏ.
Does sized influence the suitability of the ifrs for small and medium- sized entities?- Empirical evidence from Germany. Accounting in Europe, 6(2), pp. 195-230 Nghiên cứu được tiến hành như là một cuộc khảo sát dựa trên bảng câu hỏi được gửi bằng thư tới 4000 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức để xem xét mức độ thích hợp của IFRS for SMEs đối với các doanh nghiệp thuộc các nhóm quy mô khác nhau. Bốn nhóm quy mô được sử dụng để lựa chọn mẫu được phân loại dựa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 vào doanh thu hằng năm của công ty: (1) 8 - 32 triệu EUR, (2) 33-50 triệu EUR, (3) 51 - 100 triệu EUR và (4) 100 triệu EUR.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp thường xuyên hoạt động mua bán với các nước trên thế giới và có sự hiểu biết nhất định về IFRS thì dường như các doanh nghiệp này sẽ có lợi từ việc cung cấp thông tin kế toán có thể so sánh với quốc tế cho các bên liên quan do đó họ có xu hướng áp dụng IFRS for SMEs mà không phụ thuộc vào yếu tố quy mô. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, đa số các DNNVV không coi nhà cung cấp và khách hàng quốc tế là những người sử dụng chính các báo cáo tài chính của họ do đó họ cho rằng không cần phải cung cấp báo cáo tài chính có thể so sánh quốc tế bỡi những chi phí phát sinh và việc áp dụng IFRS for SMEs chỉ mang tính miễn cưỡng tuân theo luật định. Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm quy mô liên quan đến cấu trúc của doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh của nó. Các tác động về quy mô được thể hiện liên quan đến cơ cấu tổ chức, hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu nước ngoài cũng như các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, sự hiểu biết về IFRS trong tổ chức, tần suất các dự án nghiên cứu, các khoản đầu tư vào công ty cũng như liên doanh, liên kết….
Các Doanh nghiệp càng lớn, càng có nhiều hoạt động kinh doanh quốc tế thì càng có nhu cầu về BCTC có khả năng so sánh toàn cầu hơn các DN có quy mô nhỏ. Ngoài ra, quy mô cũng ảnh hưởng đến sự thích hợp của các chuẩn mực IFRS for SMEs đối với các công ty nhỏ và vừa ở Đức. Tuy nhiên, quy mô lại không ảnh hưởng đến đánh giá của SMEs về chi phí-lợi ích khi lựa chọn các chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường Bên cạnh đó nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế nhất định: Nghiên cứu được thực hiện tại các doanh nghiệp SME ở Đức do đó kết quả mang tính chủ quan do sự khác biệt văn hóa và ảnh hưởng của khung pháp lý giữa các quốc gia. Hơn nữa, nghiên cứu được giới hạn trong việc điều tra các tác động quy mô.
Mà không xem xét đến các yếu tố khác (như mối quan hệ với công ty mẹ, chiến lược kinh doanh của tổ chức, cơ cấu tổ chức hoặc tình hình tài chính …) cũng có thể ảnh hưởng đến các phán đoán về chi phí và lợi ích liên quan đến việc áp dụng IFRS for SMEs TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. An analysis of the factors affecting the adoption of international accounting standards by developing countries.The International Journal of Accounting, 41, 373-386. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS/IFRS tại các quốc gia đang phát triển.theo đó nhóm tác giải tiến hành đánh giá mức độ tác động của các nhân tố: mức độ tăng trưởng kinh tế, trình độ học vấn, mức độ mở cửa hội nhập kinh tế, nền văn hoá trong một nhóm các quốc gia và mức độ sẵn có của thị trường vốn. Nghiên cứu tiến hành lấy mẫu trên 64 nước đang phát triển trong đó gồm 32 quốc gia đang phát triển đã áp dụng IAS/IFRS và 32 quốc gia đang phát triển chưa áp dụng, cuối cùng đưa ra kết luận rằng trình độ giáo dục tiên tiến, mức độ sẵn có của thị trường vốn và văn hoá là những yếu tố tác động tích cực và gắn liền với việc áp dụng IAS/IFRS.
Tuy nhiên, nhân tố tăng trưởng kinh tế và mức độ mở cửa hội nhập kinh tế. Ảnh hưởng mạnh mẽ của nhân tố thị trường vốn đối với quyết định áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế dường như cho thấy thông tin kế toán có chất lượng cao là rất quan trọng và có tầm ảnh hưởng đối với sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh cũng như thu hút sự tham gia đầu tư vào thị trường vốn. Các kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây cho thấy việc áp dụng một hệ thống kế toán đặc biệt bị ảnh hưởng bởi trình độ học vấn (Doupnik & Salter, 1995), thành viên văn hoá trong một nhóm nước (Abdelsalem & Weetman, 2003) của một thị trường vốn (Adhikari & Tondkar, 1992).Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia có liên quan và các cơ quan điều hành kế toán bởi vì họ có thể hiểu rõ hơn về các yếu tố có thể khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc áp dụng IAS.Những kết quả này cũng hữu ích cho IASB trong việc tìm kiếm một chiến lược để tối đa hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế ở các quốc gia khác nhau.Đồng thời kết quả nghiên cứu này còn đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ các quốc gia đang phát triển áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. The context of the possible IFRS for SMEs implementation in Romania: An exploratory study.
Accounting and management information systems, 9(1), pp. 45-71 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Tác giả thực hiện nghiên cứu về khả năng áp dụng IFRS for SMEs ở Romania. Bằng việc tổng hợp, phân tích các nghiên cứu liên quan và các tài liệu về quy định kế toán ở Romania đồng thời tiến hành phỏng vấn các chuyên gia là kế toán viên, Kiểm toán viên, các nhà ban hành chuẩn mực, tác giả nhận định việc áp dụng IFRS for SMEs sẽ rất khó khăn do có sự khác nhau trong quy định hiện hành về kế toán của Romania và IFRS for SMEs. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến khả năng áp dụng IFRS for SMES ở Romania là sự thiếu hụt của đội ngũ kế toán viên chuyên nghiệp dẫn đến việc đưa ra những phán xét thiếu chuyên nghiệp, cách tiếp cận dựa trên quy định của kế toán viên SMEs, và mối quan hệ quá chặt chẽ giữa kế toán và thuế.
Hơn thế nữa, sự không nhất quán trong việc ban hành các nguyên tắc kế toán dùng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là một khó khăn trong việc ban hành hướng dẫn chi tiết áp dụng và thực hiện theo IFRS. Nghiên cứu nhận định rằng việc áp dụng IFRS for SMES nên thực hiện chậm theo lộ trình vì còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa, khả năng chuyển đổi các khái niệm kế toán từ văn hoá này sang nền văn hoá khác đang gây tranh cãi bởi bản chất phức tạp của các tiêu chuẩn sẽ dẫn đền việc hướng dẫn không đầy đủ, và bị tác động bởi bản chất định hướng kế toán về thuế theo chế độ kế toán của từng quốc gia. Cũng theo đó nhóm tác giả cho rằng tiêu chí mà mỗi quốc gia xây dựng để áp dụng IFRS for SMEs nên dựa trên mức độ trách nhiệm chứ không phải quy mô của SMEs. Mặt khác, trên cơ sở phỏng vấn chuyên gia, các tác giả khẳng định Nhà nước là đối tượng chính sử dụng thông tin BCTC của SMEs do đó thông tin cung cấp trên BCTC không đáng tin cậy do các đối tượng sử dụng thông tin không có yêu cầu cao về chất lượng thông tin.
Từ đó, tác giả cho rằng IFRS for SMEs chỉ nên áp dụng cho SMEs có đối tượng sử dụng thông tin chính là ngân hàng và các nhà cung cấp vốn. IFRS for SMEs in Europe – Lessons for a Possible Implementation in Romania. International Conference on Economy and Management Transformation. Vol II Nghiên cứu nhằm mục đích thảo luận các kết quả nghiên cứu thu được ở Châu Âu liên quan đến việc thực hiện IFRS cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và những gợi ý trong việc thực hiện IFRS ở Romania.
So sánh các quy định quốc gia với IFRS dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và kết hợp các kết quả thu được qua việc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 tổng hợp tài liệu và thực hiện phỏng vấn sau đó dựa vào kinh nghiệm của các nước ở Châu Âu để đưa ra một số giả thuyết về tình hình áp dụng IFRS for SMEs ở Rumani.