Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hôn nhân là sự kiện pháp lý trọng đại xác lập quan hệ vợ chồng, đặt nền tảng cho việc hình thành gia đình và duy trì trật tự xã hội. Pháp luật Việt Nam luôn chú trọng xây dựng các điều kiện kết hôn chặt chẽ nhằm bảo đảm tính lành mạnh, bền vững của quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, trong thực tiễn xã hội, do nhận thức pháp luật còn hạn chế hoặc do phong tục, tập quán lạc hậu tại một số địa phương, tình trạng nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân vi phạm các điều kiện luật định vẫn diễn ra.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn trái pháp luật không có giá trị pháp lý, không được công nhận là quan hệ vợ chồng và để lại nhiều hệ quả bất lợi cho các bên cũng như con chung. Dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định cụ thể về khái niệm, điều kiện, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật, sự phát triển nhanh chóng của các quan hệ xã hội đã bộc lộ những điểm bất cập, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Phạm Hoàng Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" thuộc chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023), dưới sự hướng dẫn của ThS. Đỗ Hoài Anh.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa các quy định pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, từ đó đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về kết hôn trái pháp luật và hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Phân tích, đánh giá từ thực tiễn áp dụng pháp luật về hủy kết hôn trái pháp luật, từ đó đưa ra những hạn chế, tồn tại của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành về giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá việc giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật tại Tòa án qua một số vụ việc điển hình.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình về giải quyết hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật ở thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề pháp lý liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các vấn đề lý luận (khái niệm, hậu quả pháp lý, thẩm quyền, thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật) và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2014 (thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành và có hiệu lực từ 01/01/2015) đến thời điểm thực hiện đề tài (năm 2023).
- Phạm vi không gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong phạm vi cả nước qua một số vụ việc cụ thể tại Tòa án nhân dân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về hôn nhân và gia đình.
Hệ thống văn bản pháp lý nền tảng được tác giả trích dẫn và sử dụng làm cơ sở đối chiếu gồm có:
- Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1980.
- Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000 và 2014.
- Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Nghị định số 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ.
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của TANDTC - VKSNDTC - BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Các văn bản pháp luật lịch sử: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936 (Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật), Bộ luật Gia đình giản yếu Nam Kỳ năm 1883, Nghị định số 97/SL (1950), Sắc lệnh số 159/SL (1950), Thông tư số 112/TT-TATC (1972).
Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được áp dụng trong khóa luận:
- Phương pháp phân tích: Dùng để mổ xẻ, chia nhỏ các quy định pháp lý, các điều kiện kết hôn, thẩm quyền của Tòa án và các loại hậu quả pháp lý.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các nội dung nghiên cứu thành các kết luận có tính hệ thống và logic.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý các số liệu thực tiễn và dữ liệu y học liên quan đến kết hôn cận huyết thống, tảo hôn để làm cơ sở thực chứng cho các kiến nghị.
- Phương pháp so sánh: So sánh các quy định qua từng thời kỳ lập pháp của Việt Nam; so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật Cộng hòa Pháp (Bộ luật Dân sự Pháp) và Nhật Bản (Luật Dân sự Nhật Bản).
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, án văn, quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân và các công trình khoa học đã công bố của các tác giả: Lê Cao Cường (2014), Nguyễn Ngọc Diệp (2021), Đặng Thị Hoa (2021), Đỗ Thị Ngọc (2019), Bùi Thị Mừng (2015), Nguyễn Thị Lan (2019), Tráng A Say (2016), Doãn Thị Trang (2017).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát chung về hủy việc kết hôn trái pháp luật
Chương này tập trung làm rõ các khái niệm pháp lý căn bản, ý nghĩa của chế định, tiến trình lịch sử lập pháp tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế.
- Khái niệm và đặc điểm: Kết hôn trái pháp luật được định nghĩa tại Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8. Khóa luận phân biệt rõ "kết hôn trái pháp luật" với "chung sống như vợ chồng" (Khoản 7 Điều 3) dựa trên dấu hiệu có đăng ký kết hôn. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Nhà nước buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân không hợp pháp, mang 3 đặc điểm: (1) là chế định mang tính chất dân sự, giải quyết theo thủ tục tố tụng việc dân sự; (2) có căn cứ là sự vi phạm điều kiện kết hôn tại Điều 8; (3) hậu quả pháp lý là chấm dứt quyền và nghĩa vụ vợ chồng kể từ ngày bản án/quyết định có hiệu lực.
- Ý nghĩa: Bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên kết hôn; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con cái sinh ra trong thời kỳ này; giữ gìn trật tự an toàn xã hội; làm cơ sở xử lý hình sự đối với các tội danh như Tội tổ chức tảo hôn (Điều 183 BLHS 2015), Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS 2015), Tội loạn luân (Điều 184 BLHS 2015), Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 181 BLHS 2015).
- Lịch sử pháp luật Việt Nam:
- Thời kỳ phong kiến (Bộ luật Hồng Đức): Đã đặt ra các trường hợp cấm kết hôn như cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hoặc tang chồng (Điều 317), cấm khi ông bà cha mẹ đang bị giam cầm (Điều 318), cấm kết hôn trong họ hàng thân thích (Điều 324), nô tỳ lấy dân tự do (Điều 107), cấm quan lại lấy con gái ở địa phương cai quản (Điều 318), cấm con quan trấn thủ kết hôn với con tù trưởng (Điều 334). Nếu không được cha mẹ đồng ý thì cuộc hôn nhân có thể bị yêu cầu hủy bỏ.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Áp dụng Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936 và Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, quy định vô hiệu hôn nhân nếu vi phạm cấm kết hôn trực hệ/bàng hệ, cấm lấy vợ thứ khi chưa có vợ chính, cấm kết hôn khi đang chịu tang (tang cha mẹ 27 tháng, tang vợ 1 năm), hoặc thiếu sự bằng lòng của cha mẹ/người giám hộ đối với người dưới 21 tuổi.
- Giai đoạn 1945 - 1975: Hiến pháp 1946 (Điều 9) xác lập bình đẳng nam nữ; Nghị định số 97/SL và Sắc lệnh số 159/SL (1950); Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Thông tư số 112/TT-TATC (1972) của TANDTC hướng dẫn xử lý vi phạm kết hôn và phân chia tài sản theo nguyên tắc sở hữu riêng.
- Giai đoạn từ 1975 đến nay: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 trao quyền yêu cầu hủy kết hôn cho VKSND, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Công đoàn; Luật năm 2000 bổ sung quy định chấm dứt quan hệ như vợ chồng và ưu tiên bảo vệ phụ nữ, con cái; Luật năm 2014 hoàn thiện chi tiết chế định này.
| Giai đoạn lịch sử |
Văn bản tiêu biểu |
Điểm đặc trưng về xử lý kết hôn trái quy định |
| Phong kiến |
Bộ luật Hồng Đức |
Cấm kết hôn khi có tang, cấm kết hôn đẳng cấp; cho phép cha mẹ yêu cầu hủy hôn nếu không đồng ý. |
| Pháp thuộc |
Dân luật Bắc Kỳ (1931), Trung Kỳ (1936), Nam Kỳ (1883) |
Hôn nhân vô hiệu nếu vi phạm cấm cận huyết, đa thê, thời hạn chịu tang hoặc thiếu sự đồng ý của cha mẹ (dưới 21 tuổi). |
| 1945 - 1975 |
Hiến pháp 1946, Luật HN&GĐ 1959, Thông tư 112/TT-TATC (1972) |
Xác lập quyền bình đẳng nam nữ; TANDTC hướng dẫn buộc chấm dứt quan hệ và giải quyết tài sản như vụ việc ly hôn. |
| 1975 - 2000 |
Luật HN&GĐ 1986, Luật HN&GĐ 2000 |
Mở rộng chủ thể yêu cầu hủy hôn (đoàn thể, VKS); tài sản chung chia theo thỏa thuận hoặc công sức đóng góp, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và con. |
| 2014 đến nay |
Luật HN&GĐ 2014 |
Quy định chi tiết các căn cứ hủy hôn, thẩm quyền, đường lối xử lý linh hoạt và hậu quả pháp lý về nhân thân, tài sản, con chung. |
- Pháp luật một số quốc gia:
- Pháp: Phân biệt hủy kết hôn tương đối (Điều 201 Bộ luật Dân sự Pháp - bảo vệ quyền lợi của bên ngay tình) và hủy kết hôn tuyệt đối (Điều 184 Bộ luật Dân sự Pháp - áp dụng với các vi phạm nghiêm trọng như độ tuổi, sự đồng ý, loạn luân, với thời hiệu yêu cầu là 30 năm).
- Nhật Bản: Quy định độ tuổi kết hôn thấp hơn Việt Nam (Điều 731 Luật Dân sự Nhật Bản: nam từ 18 tuổi, nữ từ đủ 16 tuổi do đặc thù già hóa dân số) và áp dụng thủ tục xem xét chặt chẽ tại Tòa án.
Chương 2: Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về hủy việc kết hôn trái pháp luật
Chương 2 là chương trọng tâm, phân tích chi tiết các điều khoản thực định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
-
Quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (Điều 10):
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật (áp dụng khi vi phạm Điểm b Khoản 1 Điều 8).
- Các chủ thể có quyền trực tiếp yêu cầu Tòa án khi có vi phạm về độ tuổi, năng lực hành vi hoặc điều cấm (Điểm a, c, d Khoản 1 Điều 8) gồm: Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện có quyền đề nghị các cơ quan, tổ chức nêu trên yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
-
Các căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật:
- Kết hôn trước tuổi luật định (Điểm a Khoản 1 Điều 8): Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên. Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT hướng dẫn cách tính ngày tháng năm sinh cụ thể (nếu chỉ biết năm sinh thì tháng sinh tính là tháng 1; nếu chỉ biết năm và tháng thì ngày sinh tính là ngày mùng 1 của tháng đó). Quy định này đồng bộ với Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015 (người thành niên từ đủ 18 tuổi) và Khoản 3 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Vi phạm sự tự nguyện (Điểm b Khoản 1 Điều 8): Kết hôn do bị cưỡng ép (Khoản 9 Điều 3) hoặc bị lừa dối kết hôn (Khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - hành vi cố ý làm cho bên kia hiểu sai lệch dẫn đến đồng ý kết hôn).
- Người bị mất năng lực hành vi dân sự mà kết hôn (Điểm c Khoản 1 Điều 8): Cá nhân bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ hành vi và đã có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần (Điều 22 BLDS 2015).
- Thuộc các trường hợp cấm kết hôn (Điểm d Khoản 1 Điều 8 và Khoản 2 Điều 5):
- Kết hôn giả tạo (Khoản 11 Điều 3): Lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch, hưởng ưu đãi của Nhà nước mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác (hướng dẫn cụ thể tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT).
- Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; có họ trong phạm vi ba đời (Khoản 17, 18 Điều 3). Tác giả dẫn số liệu y sinh học: trẻ sinh ra từ hôn nhân cận huyết có nguy cơ 25% mắc bệnh và 50% mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia), trong khi Việt Nam có trên 5 triệu người mang gen bệnh này.
- Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
- Kết hôn giữa những người cùng giới tính (Khoản 2 Điều 8): Luật năm 2014 chuyển đổi quan điểm từ "cấm" (Luật 2000) sang "không thừa nhận", nghĩa là không xử phạt hành vi kết hôn nhưng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa vợ và chồng.
-
Đường lối giải quyết và các biện pháp chế tài:
- Giải quyết tại Tòa án (Điều 11 và TTLT số 01/2016/TTLT): Tòa án nhân dân cấp huyện (hoặc cấp tỉnh nếu có yếu tố nước ngoài) giải quyết theo thủ tục việc dân sự (không hòa giải). Có 2 trường hợp xử lý: (1) Đến thời điểm giải quyết, hai bên vẫn chưa đủ điều kiện kết hôn thì Tòa án ra quyết định hủy; (2) Hai bên đã đủ điều kiện nhưng không cùng yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân (hoặc một bên yêu cầu ly hôn) thì Tòa án quyết định hủy.
- Biện pháp hành chính: Áp dụng Nghị định số 82/2020/NĐ-CP: Điều 58 quy định phạt tiền từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức tảo hôn; phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn; Điều 59 quy định xử phạt các vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.
- Biện pháp hình sự: Áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015: Điều 181 (Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn... - phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm); Điều 182 (Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng - mức phạt tù cao nhất đến 03 năm).
-
Hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật:
- Hậu quả về nhân thân (Điều 12): Hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng kể từ ngày bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực. Giữa hai bên không phát sinh quyền, nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng (quyền đại diện, quyền cấp dưỡng, quyền thừa kế di sản khi một bên chết). Tòa án gửi quyết định cho cơ quan đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch.
- Hậu quả về tài sản (Điều 16): Giải quyết theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo Bộ luật Dân sự và các luật liên quan. Tài sản riêng thuộc sở hữu của người đó (có nghĩa vụ chứng minh); tài sản chung được chia theo công sức đóng góp của mỗi bên, ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.
- Hậu quả về quan hệ với con chung: Giải quyết quyền và nghĩa vụ đối với con tương tự như trường hợp cha mẹ ly hôn, bảo đảm toàn diện quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc của con.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật và một số kiến nghị
- Thực tiễn thực hiện: Khóa luận đánh giá thực trạng áp dụng các quy định về hủy kết hôn trái pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp; chỉ ra một số tồn tại như nhận thức của người dân tại các vùng sâu, vùng xa còn hạn chế, tình trạng cán bộ tư pháp - hộ tịch cơ sở nắm chưa vững quy định dẫn đến việc cấp đăng ký kết hôn sai sót; việc thu thập chứng cứ chứng minh kết hôn giả tạo hoặc mất năng lực hành vi dân sự gặp nhiều khó khăn.
- Các kiến nghị của tác giả:
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Bổ sung hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định hành vi lừa dối, cưỡng ép kết hôn; khắc phục kẽ hở pháp lý liên quan đến người có biểu hiện tâm thần nhưng chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự; hoàn thiện cơ chế giải quyết tài sản và bảo vệ quyền lợi phụ nữ, con cái khi hủy hôn.
- Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng: Nâng cao trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tư pháp - hộ tịch; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật Hôn nhân và gia đình tại các vùng có nguy cơ cao về tảo hôn và hôn nhân cận huyết; tăng cường phối hợp giữa Tòa án và cơ quan đăng ký hộ tịch trong việc cập nhật thông tin tư pháp.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý, trình tự tố tụng và đường lối xử lý của Tòa án đối với việc hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP và Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Số liệu pháp lý và thực tiễn trích xuất từ văn bản:
- Mức xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức tảo hôn; từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn.
- Mức chế tài hình sự theo BLHS năm 2015: Khung hình phạt từ phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm đối với Tội cưỡng ép kết hôn (Điều 181); mức cao nhất đến 03 năm tù đối với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182).
- Dữ liệu y sinh học về hôn nhân cận huyết: Nguy cơ 25% sinh con bị bệnh và 50% mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia); Việt Nam ghi nhận trên 5 triệu người mang gen bệnh này.
- Độ tuổi kết hôn so sánh tại Nhật Bản: Nam từ 18 tuổi, nữ từ đủ 16 tuổi theo Điều 731 Luật Dân sự Nhật Bản.
- Giải pháp và kiến nghị đề xuất: Đưa ra 2 nhóm kiến nghị cụ thể gồm hoàn thiện các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (căn cứ mất năng lực hành vi dân sự, tiêu chí lừa dối/cưỡng ép) và nâng cao hiệu quả thực thi của đội ngũ cán bộ tư pháp, Tòa án.
- Đóng góp khoa học: Khóa luận kết hợp đồng thời việc phân tích quy phạm thực định, rà soát tiến trình lịch sử lập pháp từ thời phong kiến đến hiện đại, và đối chiếu so sánh với mô hình pháp luật của Pháp và Nhật Bản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn của khóa luận chủ yếu tập trung vào các vụ việc và số liệu thứ cấp được công bố trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2023, chưa tiến hành khảo sát định lượng toàn diện trên toàn bộ hệ thống Tòa án nhân dân cấp huyện trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng các quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật khi hệ thống pháp luật dân sự, tố tụng dân sự có những sửa đổi, bổ sung mới; nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp bảo vệ tài sản và quyền lợi của trẻ em trong các vụ việc kết hôn giả tạo có yếu tố nước ngoài.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình; cán bộ làm công tác tư pháp - hộ tịch tại Ủy ban nhân dân các cấp; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư tham gia giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Khung so sánh sự phát triển của chế định kết hôn trái pháp luật qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam (Bộ luật Hồng Đức, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn 1945 - 1975, giai đoạn từ 1975 đến nay).
- Hướng dẫn áp dụng chi tiết về cách tính độ tuổi kết hôn và đường lối giải quyết của Tòa án theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
- Phân tích ranh giới pháp lý giữa xử lý dân sự, xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 82/2020/NĐ-CP) và truy cứu trách nhiệm hình sự (BLHS 2015) đối với các hành vi vi phạm điều kiện kết hôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thế nào là kết hôn trái pháp luật và điểm khác biệt cơ bản với chung sống như vợ chồng là gì?
Trả lời: Theo Khoản 6 Điều 3, kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn tại Điều 8. Điểm khác biệt cơ bản với hành vi "chung sống như vợ chồng" (Khoản 7 Điều 3) là dấu hiệu thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Những chủ thể nào có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014?
Trả lời: Gồm 3 nhóm: (1) Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn; (2) Vợ/chồng của người đang có vợ/chồng mà kết hôn với người khác; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ (khi vi phạm về độ tuổi, năng lực hành vi hoặc điều cấm); (3) Các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị các cơ quan, tổ chức tại nhóm 2 yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
3. Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do chưa đủ tuổi, Tòa án xử lý như thế nào nếu tại thời điểm xét xử cả hai bên đã đủ tuổi kết hôn?
Trả lời: Căn cứ Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và TTLT số 01/2016/TTLT, nếu tại thời điểm giải quyết cả hai bên đã cùng đủ điều kiện kết hôn nhưng không cùng yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu, thì Tòa án sẽ ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
4. Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi tảo hôn và duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật được quy định như thế nào?
Trả lời: Căn cứ Điều 58 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, hành vi tổ chức tảo hôn bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng; hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
5. Hậu quả pháp lý về tài sản khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo nguyên tắc nào?
Trả lời: Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ tài sản trước hết được giải quyết theo sự thỏa thuận của các bên. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án giải quyết theo Bộ luật Dân sự: tài sản riêng của bên nào thuộc sở hữu của bên đó (phải chứng minh được); tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên, có tính đến việc ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con cái.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Hoàng Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định về chế định hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Công trình làm rõ các căn cứ vi phạm điều kiện kết hôn, thẩm quyền, đường lối giải quyết của Tòa án và các hậu quả pháp lý về nhân thân, tài sản và con chung, đồng thời đối chiếu với quá trình phát triển lịch sử lập pháp Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế. Trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng và chỉ ra các vướng mắc pháp lý, tác giả đã đề xuất các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn tư pháp.