Chương 1: Lý luận chung về huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp công nghiệp Chương 2: Thực trạng huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động và sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam -5- CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 1. DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP VÀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Doanh nghiệp công nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng 1. Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp công nghiệp Theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000, thì "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm đạt mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh".
Tuỳ theo phạm vi hoạt động mà người ta chia ra: doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp xây dựng, vv. Doanh nghiệp công nghiệp là một loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp mà tập thể người lao động sử dụng máy móc, nguyên vật liệu và những tư liệu sản xuất khác để khai thác, chế tạo sản phẩm công nghiệp. Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất, thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của 2 mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội, nền kinh tế chia thành nhiều ngành như nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng,.
Song xét trên phương diện tính chất tương tự của công nghệ sản xuất có thể coi đó là tổng thể của hai ngành cơ bản: nông nghiệp và công nghiệp, còn các ngành khác có thể là các dạng đặc thù của hai ngành đó. Doanh nghiệp công nghiệp có những đặc trưng cơ bản về mặt kỹ thuật - sản xuất, cũng như đặc trưng kinh tế - xã hội, khác với các loại hình doanh nghiệp khác ở các khía cạnh chủ yếu sau: - Trong các doanh nghiệp công nghiệp, quá trình sản xuất chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ, lý hoá của con người, làm thay -6- đổi các đối tượng lao động thành các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người (khác với doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, quá trình sản xuất lại bằng phương pháp sinh học là chủ yếu). - Các đối tượng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: sau mỗi chu kỳ sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này chuyển sang các sản phẩm có công dụng cụ thể khác. Hoặc một loại nguyên liệu sau quá trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có các công dụng khác nhau (nếu so sánh với các doanh nghiệp nông nghiệp thì đối tượng lao động của doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm các động vật và thực vật sau quá trình sản xuất chỉ có sự thay đổi về lượng là chủ yếu).
- Sản phẩm của các DN công nghiệp có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu ở các trình độ ngày càng cao của xã hội, là hoạt động duy nhất tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế. Với các đặc điểm về mặt kỹ thuật của sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp nêu trên, trong quá trình phát triển, doanh nghiệp công nghiệp luôn có điều kiện phát triển về kỹ thuật, tổ chức sản xuất; dễ dàng tạo ra được một đội ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tác phong “công nghiệp”; đồng thời, có điều kiện và cần thiết phải phân công lao động ngày càng sâu, tạo điều kiện, tiền đề để phát triển nền sản xuất hàng hoá ở trình độ và tính chất cao hơn so với doanh nghiệp ở các ngành khác. Phân loại doanh nghiệp công nghiệp Hiện nay, trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có một lượng lớn các DNCN đang hoạt động. Những DNCN này đều có những đặc trưng cơ bản giống nhau nhưng đồng thời chúng có những đặc điểm cụ thể rất khác nhau.
Để nghiên cứu và phục vụ cho công tác quản lý cần phải tiến hành việc phân loại DNCN. Việc phân loại như vậy giúp ta hệ thống hoá các loại DNCN, có thể nắm bắt và nghiên cứu cụ thể từng loại hình DNCN và là cơ sở để xác định các chính sách, biện pháp quản lý phù hợp. - Căn cứ theo quy mô : Các doanh nghiệp công nghiệp được chia thành các DN quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ. Quy mô được phản ánh chủ yếu theo 2 tiêu thức: Số lao động và số vốn tính bằng tiền.
Theo Điều 3, Nghị -7- định số 90/2001/ NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp DN nhỏ và vừa quy định: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là DN có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. - Dưới góc độ đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, các yếu tố đầu vào và đầu ra, người ta phân loại theo ngành nghề sản xuất kinh doanh chính. Theo cách phân loại này, doanh nghiệp công nghiệp chia làm 3 nhóm: Công nghiệp khai thác Công nghiệp chế biến Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí và nước. Sự phân loại này là hoàn toàn cần thiết để nghiên cứu các vấn đề thực tế của doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề tạo vốn và sử dụng vốn cũng như việc xác định các chỉ tiêu bình quân của ngành làm căn cứ vạch kế hoạch kinh doanh cho các doanh nghiệp.
Do đòi hỏi của quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá, các doanh nghiệp có thể kinh doanh đa ngành nhưng thường tập trung vào một ngành sản xuất kinh doanh chủ yếu có trình độ chuyên môn hoá sâu. Xem xét cơ cấu ngành nghề trong hệ thống doanh nghiệp công nghiệp và xu hướng vận động của nó có thể cho phép đánh giá những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hệ thống cũng như các quan điểm của Nhà nước về các ngành nghề cần nắm giữ trong từng thời kỳ. - Theo tính chất sở hữu, doanh nghiệp công nghiệp bao gồm : Doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp công nghiệp ngoài Nhà nước : doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh,. Doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Vị trí, vai trò của doanh nghiệp công nghiệp Trong hệ thống kinh tế quốc dân, doanh nghiệp công nghiệp có vị trí rất quan trọng, đó là: - Doanh nghiệp công nghiệp là một đơn vị sản xuất cơ sở. Doanh nghiệp là nơi trực tiếp kết hợp lao động của con người với các tư liệu sản xuất để tạo ra -8- của cải mới cho xã hội. Doanh nghiệp công nghiệp là một mắt xích quan trọng của quá trình tái sản xuất mở rộng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - Doanh nghiệp công nghiệp là đơn vị kinh tế cơ bản của nền kinh tế quốc dân.
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân nói chung, của ngành công nghiệp nói riêng. Vì vậy, doanh nghiệp công nghiệp được coi là đơn vị kinh tế cơ sở, nơi không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất mà còn tạo ra thu nhập quốc dân và nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. - Doanh nghiệp công nghiệp là một tổ chức kinh doanh và là một trường học quản lý. Doanh nghiệp công nghiệp là một đơn vị tổ chức xã hội, nơi hàng ngày người lao động ứng dụng các thành tựu của khoa học kĩ thuật và thực hiện quyền làm chủ của mình.
Không những thế, mỗi doanh nghiệp công nghiệp còn là một trường học quản lý kinh tế, là nơi rèn luyện con người mới, hình thành tác phong công nghiệp mang phong cách của nền sản xuất đại công nghiệp. Với vị trí như vậy, đối với các quốc gia, doanh nghiệp công nghiệp có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất trong nền kinh tế. Ngoài những ngành sản xuất ở lĩnh vực công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ nó còn bao gồm cả trong ngành chế biến nông lâm sản, thuỷ hải sản, lương thực thực phẩm, hoá chất, điện tử. Doanh nghiệp công nghiệp cũng có mặt trên tất cả các vùng kinh tế, các ngành kinh tế kĩ thuật kể cả quốc phòng và an ninh và ở trong tất cả các thành phần kinh tế khác nhau.
Có thể nêu lên một số vai trò cụ thể của nó như sau: - Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ bảo đảm đáp ứng trực tiếp nhu cầu đa dạng, phong phú và ngày càng tăng của xã hội. Từ nhu cầu đơn giản, thông thường tối thiểu đến những nhu cầu cao cấp, phức tạp. - Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, nhất là nông, lâm, ngư nghiệp. Thông qua các doanh nghiệp công nghiệp, các sản phẩm trung gian của các ngành đã trở thành hàng hoá, thu nhập dân cư tăng lên.
- Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng xuất khẩu vừa thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm nhiều ngoại tệ. Qua đó có thể đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc thiết bị. Kinh nghiệm từ các nước công -9- nghiệp phát triển cho thấy tỷ lệ hàng hoá xuất khẩu góp phần rất quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế mà sản phẩm xuất khẩu được sản xuất từ các doanh nghiệp công nghiệp. - Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ góp phần tích luỹ vốn đầu tư vào sản xuất, nâng cao tỷ trọng đầu tư trong GDP nhất là những ngành sản xuất các sản phẩm tiêu dùng có giá trị thặng dư cao: thuốc lá, bia, chất dẻo.
Nếu có chính sách phát triển đúng sẽ góp phần lớn vào tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân. - Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển các mạng lưới gia công, sơ chế từ thành thị đến nông thôn, thu hút nhiều lao động, góp phần rất lớn vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Số lao động sẽ chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp có thể tiến hành ngày tại chỗ chứ không nhất thiết phải thu hút vào thành thị. Vốn của doanh nghiệp công nghiệp 1.
Khái niệm, đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp công nghiệp a. Khái niệm của vốn Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có một nguồn lực tài chính nhất định để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.