Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là chủ trương chiến lược nhằm chuyển biến căn bản diện mạo khu vực nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân. Tại tỉnh Bắc Kạn, Ngân Sơn là huyện miền núi vùng cao đặc thù với diện tích tự nhiên 64.588 ha và dân số 30.705 người, trong đó tỷ lệ dân cư nông thôn chiếm đến 77,6%. Địa phương có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống tại 174 thôn bản, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều trở ngại khi mới được công nhận bổ sung vào danh sách huyện nghèo theo Nghị quyết 30a vào năm 2018.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực tế công tác huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn, dàn trải và chưa tương xứng với tiềm năng. Tính đến hết năm 2017, toàn huyện đạt bình quân 8,1 tiêu chí/xã và chưa có xã nào trong số 10 xã về đích nông thôn mới. Dù tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đã giảm từ 50,96% năm 2015 xuống còn 42,37% năm 2017 (giảm 8,59%), nhưng địa hình chia cắt mạnh cùng xuất phát điểm kinh tế thấp đã đặt ra thách thức lớn trong việc huy động tài lực, vật lực và nhân lực. Mục tiêu của luận văn là đánh giá thực trạng huy động 3 nguồn lực cốt lõi giai đoạn 2015 - 2017 tại 3 xã đại diện, chỉ rõ các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm đạt mục tiêu đưa 3/10 xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới đến năm 2020 theo Nghị quyết số 10-NQ/HU của Huyện ủy Ngân Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết phát triển nông thôn bền vững kết hợp lý thuyết huy động nguồn lực cộng đồng. Nghiên cứu tham chiếu sâu sắc bài học lịch sử từ phong trào Làng mới (Saemaul Undong) của Hàn Quốc khởi xướng từ năm 1962 – một mô hình thành công điển hình trong việc biến nguồn lực tự lực cánh sinh của nhân dân thành động lực hiện đại hóa nông thôn dù xuất phát điểm thu nhập chỉ 87 USD/người. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng khung cơ cấu vốn chuẩn hóa theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước 30%, vốn tín dụng 45%, vốn doanh nghiệp 15% và vốn đóng góp từ cộng đồng dân cư 10%.

Hệ thống khái niệm chính được làm rõ bao gồm:

  • Nông thôn mới: Không gian kinh tế - xã hội nông thôn có kết cấu hạ tầng đồng bộ, cơ cấu kinh tế hợp lý, môi trường sinh thái được bảo vệ và đời sống văn hóa, tinh thần của người dân được nâng cao toàn diện.
  • Nguồn tài lực: Toàn bộ nguồn vốn bằng tiền phục vụ xây dựng nông thôn mới, bao gồm vốn ngân sách trực tiếp, vốn lồng ghép từ các chương trình mục tiêu quốc gia, vốn tín dụng thương mại và nguồn đóng góp của nhân dân.
  • Nguồn vật lực và nhân lực: Sự đóng góp hiện vật của người dân thông qua hiến đất xây dựng công trình công cộng, vật liệu xây dựng tại chỗ và số ngày công lao động trực tiếp do các đoàn thể chính trị - xã hội điều phối.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng quy mô mẫu điều tra gồm 120 phiếu khảo sát sơ cấp. Cụ thể, mẫu cấp huyện gồm 18 phiếu dành cho cán bộ lãnh đạo Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội, Phòng Tài chính - Kế hoạch cùng các tổ chức đoàn thể huyện. Mẫu cấp xã gồm 102 phiếu, trong đó 21 phiếu phỏng vấn cán bộ quản lý cấp xã và 81 phiếu điều tra hộ dân.

Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo phương pháp phân tầng có chủ đích (stratified purposive sampling) trên phạm vi không gian 3 xã đại diện cho 3 phân nhóm phát triển của huyện: xã Vân Tùng (đại diện nhóm tiêu chí cao, đạt 14 tiêu chí), xã Thuần Mang (đại diện nhóm trung bình, đạt 7 tiêu chí) và xã Trung Hòa (đại diện nhóm thấp, đạt 5 tiêu chí). Tại mỗi xã, khảo sát chọn ngẫu nhiên 3 thôn bản; tại mỗi thôn chọn 9 hộ phân bổ đều theo 3 nhóm đối tượng: 3 hộ nghèo, 3 hộ cận nghèo và 3 hộ không nghèo (tổng 27 hộ/xã). Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của UBND huyện Ngân Sơn giai đoạn 2015 - 2017. Luận văn áp dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp phân tích thống kê kinh tế trên phần mềm Microsoft Excel để tính toán số trung bình, độ lệch chuẩn và hệ số biến động nhằm so sánh định lượng tính đồng đều và hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng kế hoạch tài chính huy động cho xây dựng nông thôn mới huyện Ngân Sơn giai đoạn 2015 - 2017 đạt 119.645,8 triệu đồng. Cơ cấu vốn phản ánh sự phụ thuộc lớn vào vốn vay khi vốn tín dụng chiếm tới 59,42% (71.092,6 triệu đồng). Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp đạt 28.615 triệu đồng (chiếm 23,92%), vốn lồng ghép từ Chương trình 135 đạt 7.560 triệu đồng (chiếm 6,32%), vốn huy động nhân dân đạt 12.378,2 triệu đồng (chiếm 10,34%). Nguồn vốn đóng góp từ các doanh nghiệp và hợp tác xã hoàn toàn bằng 0%.

Thứ hai, kết quả thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới có sự phân hóa gay gắt giữa các nhóm lĩnh vực. Có 3/19 tiêu chí đạt 100% số xã bao gồm Tiêu chí 1 (Quy hoạch), Tiêu chí 12 (Lao động có việc làm) và Tiêu chí 15 (Y tế với tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 99,5%). Tiêu chí 3 (Thủy lợi) đạt 9/10 xã (90%). Ngược lại, có 3 tiêu chí quan trọng đạt 0% số xã gồm: Tiêu chí 2 (Giao thông - dù đã đầu tư 51 công trình với 334 km kinh phí 21 tỷ đồng nhưng vẫn còn 38% đường ngõ xóm lầy lội mùa mưa), Tiêu chí 5 (Trường học) và Tiêu chí 17 (Môi trường - chỉ 45% hộ có đủ 3 công trình vệ sinh và 30% hộ chăn nuôi có chuồng trại hợp chuẩn).

Thứ ba, khoảng cách phát triển giữa các xã nội huyện còn rất lớn. Xã Vân Tùng là điểm sáng duy nhất đạt 14 tiêu chí, thu nhập bình quân khoảng 15,4 triệu đồng/người/năm và tỷ lệ nghèo chỉ còn 10,91%. Trong khi đó, các xã vùng sâu như Thuần Mang chỉ đạt 7 tiêu chí với tỷ lệ nghèo 51,06%, xã Trung Hòa chỉ đạt 5 tiêu chí với tỷ lệ nghèo 52,55%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến huyện Ngân Sơn chưa có xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2017 là do cơ cấu kinh tế thuần nông chậm chuyển dịch, địa bàn vùng cao hiểm trở làm đội chi phí xây dựng hạ tầng cơ bản. Sự vắng bóng hoàn toàn của nguồn vốn doanh nghiệp (0%) bắt nguồn từ việc địa phương chưa có cơ chế ưu đãi hấp dẫn để thu hút các đơn vị liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị cho các đặc sản như cây thuốc lá hay gạo nếp Khẩu Nua Lếch. So sánh với tỉnh Hà Tĩnh – địa phương đạt 60,3% số xã chuẩn nông thôn mới (158/262 xã) nhờ sáng tạo đưa vào tiêu chí thứ 20 về khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu và huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội hóa, hoặc so với mặt bằng chung tỉnh Bắc Kạn đạt 8,18% (9/110 xã chuẩn nông thôn mới), tiến độ của huyện Ngân Sơn còn chậm.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự phân bổ nguồn lực có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu hình tròn (Pie Chart) thể hiện sự mất cân đối của 4 nguồn vốn, kết hợp bảng so sánh độ lệch chuẩn giữa các nhóm xã nghèo và xã trung tâm nhằm giúp nhà quản lý nhận diện điểm nghẽn đầu tư công.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đa dạng hóa nguồn tài chính và thu hút nguồn lực doanh nghiệp: UBND huyện Ngân Sơn cùng Phòng Tài chính - Kế hoạch cần ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư nông nghiệp đặc thù, phấn đấu thu hút từ 2 đến 3 doanh nghiệp và hợp tác xã lớn tham gia liên kết chuỗi giá trị nông sản chủ lực trong giai đoạn 2019 - 2022, mục tiêu nâng tỷ trọng vốn doanh nghiệp lên tối thiểu 5% - 10% tổng nguồn vốn.

Thứ hai, tối ưu hóa công tác lồng ghép vốn đầu tư công: Ban chỉ đạo nông thôn mới cấp huyện cần tích hợp đồng bộ nguồn vốn ngân sách trực tiếp NTM và nguồn vốn Chương trình 135 (quy mô trên 36 tỷ đồng phân bổ mỗi giai đoạn) để tập trung dứt điểm cho các công trình hạ tầng giao thông liên thôn và trường học, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng phân bổ dàn trải, cào bằng giữa 10 xã.

Thứ ba, phát huy nguồn lực vật lực và nhân lực tại chỗ trong nhân dân: Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) triển khai sâu rộng cơ chế "Nhà nước hỗ trợ vật liệu, nhân dân hiến đất và góp công", phấn đấu nâng tỷ lệ cứng hóa đường trục thôn bản từ 42% lên trên 70% vào năm 2022, giảm áp lực chi ngân sách nhà nước ít nhất 20% trên mỗi km đường bê tông.

Thứ tư, nâng cao năng lực bộ máy quản lý và cán bộ điều hành cấp cơ sở: Phòng Nông nghiệp & PTNT chủ trì tổ chức tập huấn chuyên sâu 100% cán bộ Ban quản lý xã và Ban phát triển thôn về nghiệp vụ lập dự toán, giám sát đầu tư cộng đồng và thanh quyết toán công trình công ích trong giai đoạn 2019 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo UBND và Ban chỉ đạo NTM cấp huyện, xã tại khu vực miền núi phía Bắc: Ứng dụng bài học thực tiễn trong công tác điều phối 3 nguồn lực tài chính, đất đai, ngày công tại các địa bàn huyện nghèo 30a có trên 70% dân số nông thôn.
  • Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Phát triển nông thôn và Kinh tế nông nghiệp: Sử dụng bộ số liệu khảo sát thực địa 120 phiếu và phương pháp phân tích PRA kết hợp chỉ số biến động Excel làm mô hình tham khảo phương pháp luận.
  • Các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ: Khai thác dữ liệu thực trạng tỷ lệ hộ nghèo đa chiều 42,37% và các tiêu chí chưa đạt về môi trường, nước sinh hoạt để thiết kế các dự án tài trợ an sinh xã hội chính xác.
  • Doanh nghiệp, Hợp tác xã nông lâm nghiệp: Tham khảo tiềm năng phát triển vùng nguyên liệu và liên kết chuỗi tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thế mạnh trên tổng diện tích tự nhiên 64.588 ha của địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao huyện Ngân Sơn chưa có xã nào đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2017?
Nguyên nhân chủ yếu do xuất phát điểm kinh tế thấp với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 42,37%, địa hình vùng cao hiểm trở gây tốn kém chi phí hạ tầng. Mức thu nhập bình quân đầu người của huyện chỉ đạt khoảng 15,4 triệu đồng/năm, khiến việc huy động đóng góp của nhân dân gặp nhiều giới hạn.

Cơ cấu nguồn vốn huy động xây dựng nông thôn mới tại Ngân Sơn có điểm gì bất cập?
Giai đoạn 2015 - 2017, vốn tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 59,42% (71.092,6 triệu đồng), trong khi vốn trực tiếp chỉ chiếm 23,92%. Đặc biệt, nguồn vốn từ các doanh nghiệp và hợp tác xã hoàn toàn bằng 0%, chưa đạt chuẩn cơ cấu 15% theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg.

Những tiêu chí nào đang là lực cản lớn nhất tại địa phương?
Tiêu chí Giao thông (0/10 xã đạt, còn 38% đường ngõ xóm lầy lội), Tiêu chí Trường học (0/10 xã đạt) và Tiêu chí Môi trường (0/10 xã đạt, chỉ 30% hộ chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh) là các tiêu chí khó khăn nhất cần nguồn vốn lớn để khắc phục.

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu của đề tài đảm bảo tính đại diện ra sao?
Nghiên cứu khảo sát 120 phiếu, trong đó phân bổ 81 hộ dân tại 3 xã đại diện cho 3 phân tầng thu nhập và tiêu chí nông thôn mới: Vân Tùng (14 tiêu chí), Thuần Mang (7 tiêu chí) và Trung Hòa (5 tiêu chí), chia đều cho các nhóm hộ nghèo, cận nghèo và không nghèo.

Kinh nghiệm từ phong trào Làng mới Hàn Quốc và tỉnh Hà Tĩnh có thể áp dụng thế nào cho Ngân Sơn?
Ngân Sơn cần phát huy tinh thần tự lực của người dân, thực hiện dân chủ "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", đồng thời ưu tiên triển khai các tiêu chí không cần nhiều ngân sách như chỉnh trang cảnh quan, vệ sinh làng xóm và xây dựng vườn mẫu, khu dân cư kiểu mẫu.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện bức tranh huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn giai đoạn 2015 - 2017, đạt mức bình quân 8,1 tiêu chí/xã nhưng chưa có xã nào về đích.
  • Chỉ rõ sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu tài chính 119.645,8 triệu đồng khi thiếu vắng vốn doanh nghiệp (0%) và phụ thuộc nhiều vào tín dụng (59,42%).
  • Khẳng định vai trò quyết định của nguồn lực cộng đồng thông qua việc hiến đất và đóng góp ngày công trong bối cảnh tỷ lệ nghèo của huyện còn ở mức 42,37%.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp liên hoàn bao gồm đa dạng hóa nguồn vốn, liên kết doanh nghiệp, lồng ghép Chương trình 135 và kiện toàn bộ máy quản trị cơ sở giai đoạn 2019 - 2022.
  • Lộ trình tiếp theo cần tập trung mọi nguồn lực đưa 3 xã điểm (gồm xã Vân Tùng) hoàn thành 19 tiêu chí vào năm 2020, tạo đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho toàn huyện miền núi Ngân Sơn. Quý bạn đọc và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình để khai thác chi tiết kho dữ liệu thực địa giá trị này.