CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ HỦY BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm, đặc điểm về hủy bản án, quyết định sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hành chính 1. Khái niệm về hủy bản án, quyết định sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hành chính - Khái niệm hoạt động xét xử hành chính Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm trên cơ sở so sánh các hành vi pháp lý của các chủ thể pháp luật với các quy phạm pháp luật, từ đó nhân danh Nhà nước phán xét tính đúng đắn, hợp pháp của hành vi, đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất vụ việc, góp phần bảo vệ và duy trì các giá trị văn minh của pháp luật, bảo vệ trật tự quản lý nhà nước. Cũng theo quy định, thẩm quyền xét xử được trao cho Tòa án, Tòa án được quyền nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết đối với những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của mình.
Xét xử hành chính là một giai đoạn của tố tụng hành chính. Theo đó, Tòa án đưa vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của mình xét xử công khai tại phiên tòa khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. Trong tố tụng hành chính, xét xử là giai đoạn trung tâm. Mục đích của xét xử hành chính là xem xét tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, có hay không thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra cho cá nhân, tổ chức.
Xét xử hành chính được tuân thủ theo nguyên tắc hai cấp xét xử, chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện danh sách cử tri. Trong phạm vi đề tài này tác giả tập trung đi sâu vào giai đoạn xét xử hành chính theo trình tự phúc thẩm. - Khái niệm xét xử án hành chính theo trình tự phúc thẩm 7 Theo từ điển Hán – Việt thì cụm từ “phúc thẩm” không được giải nghĩa, để hiểu được thì phải ghép nghĩa của hai từ “phúc” có nghĩa là “lật lại, úp lại, xét 1 kỹ”; “thẩm” có nghĩa là “xử đoán”. Theo từ điển Tiếng Việt thì phúc thẩm có nghĩa là “Tòa án cấp trên xét xử 2 lại một vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án”.
Theo Điều 203 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì “xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.” Dưới góc độ là giai đoạn phúc thẩm thì phúc thẩm được hiểu là giai đoạn của quá trình tố tụng hành chính, trong đó Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại các bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Thủ tục phúc thẩm được bắt đầu khi có căn cứ là kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của Viện Kiểm sát đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trong một thời hạn nhất định. Phúc thẩm không phải là lần xét xử thứ hai. Thủ tục phúc thẩm được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm và mục đích của thủ tục phúc thẩm là xem xét lại tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước.
Giai đoạn xét xử phúc thẩm mang những đặc điểm riêng để phân biệt với giai đoạn xét xử sơ thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm. Cụ thể: + Cơ sở tiến hành giai đoạn xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. + Phiên tòa, phiên họp phúc thẩm của Tòa án để xét xử lại một vụ án hành chính mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. + Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hành chính do Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tiến hành.
1 Đào Duy Anh (1957), Hán Việt từ điển, Nhà xuất bản Trường Thi, Sài Gòn 2 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng Hà Nội 8 + Mục đích của giai đoạn xét xử phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm trên cơ sở đánh giá chứng cứ đã thu thập được ở cấp sơ thẩm và xem xét những chứng cứ mới thu thập trong quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm để xác định tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm. + Phạm vi của xét xử phúc thẩm là những nội dung bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị hoặc những phần bản án, quyết định sơ thẩm có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Đối với những nội dung chưa được giải quyết tại cấp sơ thẩm sẽ không được xem xét tại cấp phúc thẩm, bởi điều này sẽ vi phạm nguyên tắc hai cấp xét xử. + Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay.
Giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm tra, đánh giá được chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm. Những sai lầm, vi phạm pháp luật của Tòa án sơ thẩm thông qua giai đoạn xét xử phúc thẩm sẽ được phát hiện kịp thời trước khi bản án, quyết định được thi hành trên thực tế. Thông qua quá trình đó có thể giúp cho quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử giữa các tòa án địa phương một cách thống nhất. - Khái niệm thẩm quyền xét xử phúc thẩm án hành chính Thẩm quyền là một khái niệm quan trọng của khoa học pháp lý.
Theo từ điển Tiếng Việt, thẩm quyền là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn 3 đề theo pháp luật”. Theo từ điển luật học thì thẩm quyền là “quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề. Thẩm quyền của Tòa án là “quyền xem xét và quyền giải quyết vụ án (bao gồm ra bản án và các quyết định 4 khác) trong hoạt động xét xử theo quy định của pháp luật”. Thẩm quyền trong tố tụng hành chính được hiểu là tập hợp các quy định pháp luật tố tụng hành chính liên quan đến việc giao vụ án cho Tòa án cấp nào giải quyết, phạm vi các vấn đề cần giải quyết và quyền ra quyết định của Tòa án 3 Trung tâm Từ điển học (1998), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng 4 Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản tư pháp và Nhà xuất bản Từ điển bách khoa 9 trong quá trình giải quyết vụ án.
Chế định về thẩm quyền của Tòa án bao gồm các nội dung sau: Một là, thẩm quyền về xét xử, để xác định Tòa án nào có thẩm quyền xét xử một vụ án cụ thể. Hai là, phạm vi xét xử của Tòa án đối với một vụ án cụ thể. Ba là, thẩm quyền để quyết định, để xác định quyền hạn giải quyết những vấn đề những nội dung vụ án đã được xem xét, những vấn đề đảm bảo cho việc xét xử. Thẩm quyền của Tòa án có thể phân thành thẩm quyền về mặt hình thức và thẩm quyền về mặt nội dung.
Thẩm quyền về mặt hình thức được thể hiện ở thẩm quyền về xét xử, để xác định Tòa án nào có thẩm quyền xét xử một vụ án cụ thể và phạm vi xét xử của Tòa án đối với một vụ án cụ thể. Thẩm quyền về mặt nội dung được thể hiện ở thẩm quyền để quyết định, để xác định quyền hạn giải quyết những vấn đề những nội dung vụ án đã được xem xét, những vấn đề đảm bảo cho việc xét xử. Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hành chính của Tòa án được hiểu là quyền lực nhà nước được trao cho Tòa án để xem xét lại các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Theo quy định tại Luật Tổ chức Tòa án năm 2002 thì thẩm quyền xét xử phúc thẩm là của Tòa án nhân dân tối cao và tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Nhưng tại Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 thì thẩm quyền xét xử phúc thẩm có sự đổi mới khi thuộc về Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Khi xét xử phúc thẩm các vụ án hành chính, nội dung thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án được thực hiện chủ yếu thông qua thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm được thể hiện như sau: Thứ nhất, bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm. Điều này cho thấy không phải mọi trường hợp các bản án, quyết định sơ thẩm bị đương sự kháng cáo và Viện Kiểm sát nhân dân 10 kháng nghị đều vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với các tình tiết khách quan có trong hồ sơ vụ án thì rõ ràng việc kháng cáo, kháng nghị là không có cơ sở để chấp nhận.Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm.
Thứ hai, sửa bản án. Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án trong các trường hợp sau: Hồ sơ vụ án thể hiện các chứng cứ của vụ án đã được thu thập đầy đủ, xác minh rõ ràng nhưng bản án có nội dung trái pháp luật, không phù hợp với các tình tiết khách quan có trong hồ sơ vụ án; Hoặc việc xác minh thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm, có chứng cứ mới được bổ sung tại cấp phúc thẩm cho thấy bản án trái pháp luật, không phù hợp với các tình tiết khách quan có trong hồ sơ vụ án. Tùy trường hợp mà Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa một phần hoặc toàn bộ bản án bị kháng cáo, kháng nghị.