PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Tất cả mọi người trong chúng ta đều mong muốn có một cuộc sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc. Nhưng trong cuộc sống không ai có thể lường hết được mọi rủi ro có thể xảy ra với bản thân hay gia đình như ốm đau, bệnh tật…Các chi phí khám chữa bệnh này không thể xác định trước.
Vì vậy, dù lớn hay nhỏ đều gây khó khăn cho gia đình đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp. Điều quan trọng hơn là những rủi ro này có thể làm suy giảm sức khỏe, suy giảm khả năng lao động, không những thế người lao động mất khoản thu nhập làm cho cuộc sống khó khăn hơn. Để có thể khắc phục khó khăn trên thì Bảo hiểm y tế ra đời nhằm hỗ trợ cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về sức khỏe góp phần ổn định đời sống và đảm bảo an toàn xã hội và BHYT trở thành chính sách xã hội quan trọng, giữ vị trí trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội (ASXH) ở Việt Nam (Phạm Thu Huyền, 2019). Bảo hiểm y tế là một cơ chế đảm bảo tài chính y tế mang tính xã hội cao hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Vì vậy, phát triển chính sách Bảo hiểm y tế luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Trong những năm qua việc triển khai các Nghị quyết về chính sách BHYT đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực và nhiều thành quả có ý nghĩa, góp phần quan trọng tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội, tại thành phố Hồng Ngự tỷ lệ bao phủ là 81,73%, quỹ Bảo hiểm y tế cơ bản đã đảm bảo cân đối thu – chi (Báo cáo năm, 2021). Thực hiện lộ trình bao phủ Bảo hiểm y tế trong chính sách “Bảo đảm an sinh xã hội” là một trong những nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế với nhiều quy định đổi mới mang tính đột phá.
Tiêu biểu là quy định bắt buộc tham gia, tổ chức tham gia BHYT đã tạo cho ngành BHXH thực hiện tốt công tác thu BHYT tiến tới hoàn thành chỉ tiêu đạt độ bao phủ BHYT toàn dân mà Chính phủ giao. Tính đến thời điểm cuối năm 2021, tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân đã đạt 90% dân số, vượt và hoàn thành trước mục tiêu theo Nghị quyết số 68/2013/QH13 (giao đến năm 2020 đạt ít nhất 91,5% dân số tham gia BHYT). Riêng tại thành phố Hồng Ngự theo báo cáo của BHXH thành phố Hồng Ngự toàn Thành phố có hơn 67.495 1 người tham gia BHYT đạt tỷ lệ độ bao phủ BHYT toàn Thành phố là 81,73% tăng 12.495 người so với cùng kỳ năm 2020. Xuất phát từ thực tiễn trên, để đảm bảo mọi người dân trên toàn Thành phố đều có thẻ bảo hiểm và để đáp ứng được những yêu cầu trong quản lý thu Bảo hiểm y tế nhằm nâng cao hiệu quả thu BHYT trên địa bàn Thành phố thì việc nghiên cứu Đề tài “Quản lý thu Bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố Hồng Ngự, Đồng Tháp” là hết sức cần thiết.
Qua kết quả nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu BHYT của cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Hồng Ngự; trên cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó có những đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý thu Bảo hiểm y tế ngày càng tốt hơn, đảm bảo tăng trưởng quỹ Bảo hiểm y tế, thực hiện công bằng xã hội, đáp ứng được với xu thế phát triển chung của đất nước. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung. Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu Bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố Hồng Ngự từ đó đề xuất các giải pháp để công tác quản lý thu BHYT tại thành phố Hồng Ngự, trong thời gian tới được tốt hơn.
Mục tiêu cụ thể. Để đạt được mục tiêu chung, nội dung Đề tài sẽ lần lượt giải quyết các mục tiêu cụ thể, sau: Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng công tác quản lý thu BHYT trên địa bàn thành phố Hồng Ngự, giai đoạn 2017 – 2021. Mục tiêu 2: Xác định các mặt hạn chế và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHYT tại thành phố Hồng Ngự. Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thu BHYT trong thời gian tới.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Công tác quản lý thu Bảo hiểm y tế có rất nhiều công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước. Trong nước đã có một số công trình nghiên cứu khoa học liên 2 quan đến lĩnh vực BHYT được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động BHYT, vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động BHYT, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc thực thi chính sách BHYT cho người lao động (NLĐ), góp phần ổn định kinh tế xã hội.
Về ngoài nước cách tiếp cận BHYT là một cơ chế tài chính cho y tế các công trình đều tập trung làm rõ chức năng tài chính của BHYT. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài cụ thể, như sau: Tài liệu nước ngoài: Mathauer và cộng sự (2008) đã tiến hành nghiên cứu tập trung làm rõ các nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc mở rộng BHYT xã hội. Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp thảo luận nhóm tập trung. Kết quả phân tích cho thấy có nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT xã hội của NLĐ phi chính thức ở Kenya, đó là: Nhận thức của NLĐ và công tác tuyên truyền; thủ tục đăng ký tham gia; sự tin cậy và tin tưởng vào quản lý quỹ; tỷ lệ đóng góp phù hợp; dịch vụ CSSK chất lượng; tổ chức thu BHYT.
Trong đó, nhận thức của NLĐ và công tác tuyên truyền, truyền thông đã ảnh hưởng nhiều nhất vào việc mở rộng tham gia BHYT của NLĐ phi chính thức. Lofgen và cộng sự (2008) đã tiến hành nghiên cứu khả năng chi trả Bảo hiểm y tế trong một phần dân số nông thôn ở miền Bắc Việt Nam, đã sử dụng phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên thông qua phỏng vấn và mô hình hồi quy để xác định yếu tố quyết định khả năng chi trả Bảo hiểm y tế. Kết quả cho thấy phần đông (70-80%) số người được hỏi sẵn sàng chi trả cao hơn mức dịch vụ chăm sóc sức khỏe công cộng và tự điều trị. Nghiên cứu cũng cho kết quả các biến phản ánh thu nhập, nhu cầu chăm sóc sức khỏe, tuổi tác và trình độ học vấn là yếu tố quyết định quan trọng đến khả năng mua BHYT.
Peter Kamuzora and Lucy Gilson (2007) nghiên cứu tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển Quỹ y tế cộng đồng (CHF) tại Tanzania. Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp định tính để thu thập và phân tích dữ liệu về kinh nghiệm thực hiện các chương trình Quỹ y tế cộng đồng ở cấp huyện,thị thành phố qua hai giai đoạn. Kết quả thu được có bốn nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển Quỹ y tế cộng đồng ở Tanzania, đó là: Không có khả năng chi trả, chất lượng chăm sóc sức khỏe thấp, thiếu niềm tin vào các nhà quản lý CHF, nhận thức kém về 3 lợi ích của CHF. Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ nói lên các rào cản đối với việc tham gia BHYT nhất là nhóm đối tượng hộ nghèo.
Tran Van Tien và cộng sự (2011) đã tiến hành nghiên cứu dựa trên việc áp dụng phương pháp tiếp cận OASIS1 (Mathauer/Carrin, 2011), nhóm tác giả đã đánh giá những đặc điểm của hệ thống tài chính y tế hiện tại ở Việt Nam về thiết kế thể chế và thực hành tổ chức của hệ thống gắn kết với các chức năng tài chính y tế. Trên cơ sở này, nhóm tác giả gợi ý thay đổi cần thiết trong thiết kế thể chế và thực hành tổ chức tài chính y tế được thực hiện để cải thiện hơn nữa hiệu suất của hệ thống tài chính y tế và tiến tới bao phủ Bảo hiểm y tế trong nhân dân. Tài liệu trong nước: Lê Khắc Chí (2019), nghiên cứu về hoàn thiện công tác quản lý thu BHYT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, tác giả đã thể hiện được quyết tâm từng bước hoàn thiện công tác quản lý thu BHYT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2025. Tiến tới thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân theo đường lối của Đảng và Nhà nước.
Đề tài đã chỉ ra được khi tham gia BHYT, mọi người sẽ được bình đẳng hơn khi điều trị tại các cơ sở y tế. Bảo hiểm y tế mang tính nhân đạo cao cả, tham gia BHYT vừa có lợi cho mình vừa có lợi cho xã hội theo phương châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Bùi Thị Tú Quyên và Đào Hồng Chính nghiên cứu về việc sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia BHYT của người lao động phi chính thức quận Long Biên, Hà Nội, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn, kết quả nghiên cứu có 10,6% lao động ốm trong 4 tuần qua, tỷ lệ người lao động có thẻ BHYT khi ốm đi khám và có sử dụng BHYT chỉ được 47%. Các yếu tố ảnh hưởng đến mua thẻ BHYT: Không đủ tiền mua, thấy không cần thiết, không tin tưởng khi khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT, khó khăn trong mua thẻ BHYT, không biết về BHYT.
Khuyến nghị (1) tăng cường truyền thông (2) cân nhắc về những qui định, quy trình quản lý để tháo gỡ những khó khăn trong mua BHYT. Lê Cảnh Bích Thơ và các cộng sự (2017) đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tự nguyện của người dân thành phố Cần Thơ, tác giả tiến hành nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tự nguyện của người dân thành phố Cần Thơ. Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn 4 theo bảng câu hỏi cấu trúc với 207 đáp viên sống tại 3 quận của thành phố Cần Thơ là Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng. Đề tài sử dụng mô hình Probit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tự nguyện của người dân thành phố Cần Thơ.