chương 1 - Luật kế toán Việt Nam “Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”. - Về mục đích của hệ thống BCTC DN, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày báo cáo tài chính (VAS21) quy định: Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một DN, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt mục đích này BCTC phải cung cấp những thông tin của một DN về: 14 a/ Tài sản; b/ Nợ phải trả; c/ Vốn chủ sở hữu; d/ Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; đ/ Các luồng tiền Các khái niệm về BCTC có khác nhau do nhìn nhận BCTC trên những góc độ khác nhau, nhưng về bản chất thì không có sự khác nhau, tựu chung lại đều khẳng định BCTC là sản phẩm cuối cùng của hoạt động kế toán và được lập trên cơ sở các nguyên tắc và phương pháp riêng của kế toán cung cấp các thông tin về tài sản, nguồn vốn, kết quả hoạt động kinh doanh của DN… phục vụ cho đối tượng bên trong và bên ngoài DN. Như vậy, về bản chất BCTC là một hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính, nhằm phục vụ cho các đối tượng sử dụng, cung cấp thông tin tài chính có ích cho các đối tượng sử dụng đó, để đưa ra các quyết định quản lý kinh tế.
Tuy nhiên, hình thức và nội dung của BCTC còn phụ thuộc vào cơ chế kinh tế và sự quy định của mỗi quốc gia. Trong hệ thống kế toán Việt Nam, BCTC được xác định là loại báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình và kết quả hoạt động của DN trong một thời kỳ nhất định, được thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu có mối liên hệ mật thiết với nhau do Nhà nước quy định thống nhất bắt buộc. Tóm lại, qua những quan điểm phân tích trên về BCTC khẳng định bản chất của BCTC là sự kết hợp của những sự kiện xảy ra trong quá khứ với những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và những đánh giá của các nhân, nhằm chủ yếu cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Các thông tin hữu ích do BCTC cung cấp là các thông tin biểu hiện dưới hình thái giá trị về tình hình hiện có và sự biến động của tài sản và nguồn hình thành tài sản.
Chất lượng của thông tin được cung cấp bởi BCTC là rất quan trọng cho các đối tượng sử dụng. Do đó, trình bày và công bố các thông tin tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc: Trình bày một cách trung thực và khách quan nhất về tình hình tài chính của một tổ chức nhằm phục vụ cho việc ra quyết định quản lý của nhà quản lý bên trong cũng như bên ngoài tổ chức đó.2 Phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp Để quản lý và sử dụng đúng đắn thông tin kế toán của các DN có sự khác nhau về đặc điểm kinh doanh, về hình thức sở hữu, về quy mô tổ chức, về yêu cầu quản lý. nhà nước quy định nhiều loại BCTC khác nhau được phân loại dựa trên các tiêu thức khác nhau, cụ thể: a/ Theo nội dung kinh tế của thông tin phản ánh trên báo cáo tài chính: - BCĐKT: Là BCTC tổng hợp, phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của DN tại một thời điểm nhất định. - BCKQHĐKD: Là BCTC tổng hợp, phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của DN trong một thời kỳ.
- BCLCTT: Là BCTC tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của DN. - TMBCTC: Là BCTC mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong BCĐKT, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, BCLCTT, cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể. b/ Theo tính chất và yêu cầu quản lý: - BCTC định kỳ: Là hệ thống báo cáo được lập định kỳ theo yêu cầu quản lý của nhà nước, của DN. Theo quy định hiện hành, hệ thống BCTC định kỳ gồm: BCTC năm, BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ và dạng tóm lược.
- BCTC bất thường: Là hệ thống BCTC được lập vào các thời điểm khi DN có những sự kiện bất thường như: chia tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản, thanh tra. c/ Theo đặc điểm và tổ chức quản lý: - BCTC DN thông thường: Là hệ thống báo cáo mà tất cả các DN hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ, đều phải lập theo quy định, để phản ánh và cung cấp thông tin về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển các luồng tiền trong kỳ báo cáo của DN. - BCTC hợp nhất: Là hệ thống báo cáo mà các tập đoàn, công ty mẹ hoạt động theo mô hình có công ty con phải lập theo quy định để tổng hợp và trình bày một 16 cách tổng quá, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo; kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển các luồng tiền theo kỳ báo cáo của tập đoàn, tổng công ty. - BCTC tổng hợp: Là hệ thống báo cáo mà các đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc, các tổng công ty hoạt động theo mô hình không có công ty con phải lập theo quy định để phản ánh và cung cấp thông tin về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ của toàn đơn vị, tổng công ty.
d/ Phân loại theo kỳ lập - BCTC năm: Là hệ thống báo cáo được lập vào thời điểm cuối năm tài chính tại thời điểm cuối năm tài chính để cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc năm tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển các luồng tiền của DN trong năm tài chính. - BCTC giữa niên độ: Là hệ thống báo cáo được lập vào thời điểm cuối mỗi quý để cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của DN. BCTC giữa niên độ được chia ra thành: BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ và BCTC giữa niên độ dạng tóm lược. e/ Phân loại theo mức độ khái quát của thông tin trên BCTC - BCTC dạng đầy đủ: là hệ thống BCTC được lập để cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển các luồng tiền của DN trong kỳ báo cáo.
- BCTC dạng tóm lược: là hệ thống BCTC được lập để cung cấp các thông tin chủ yếu, mang tính tổng hợp cao về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một DN sau một kỳ hoạt động kinh doanh. Yêu cầu, nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp 1. Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp 17 Theo chuẩn mực kế toán số 21 – Trình bày báo cáo tài chính (VAS21) quy định: “Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp”. Cụ thể việc lập và trình bày BCTC DN phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Trung thực và hợp lý: Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các BCTC phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành.
Do đó, DN phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu. - Lựa chọn và áp dụng các chính sách phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp thông tin đáng tin cậy. Trong phần thuyết minh BCTC, DN cần khẳng định như là lời cam đoan là BCTC được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam. Trường hợp DN sử dụng chính sách kế toán khác với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam, không được coi là tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành dù đã thuyết minh đầy đủ trong chính sách kế toán của phần TMBCTC.
Để lập và trình bày BCTC DN đáp ứng được quy định trên thì DN cần phải: - Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của DN trong khuôn khổ quy định của các chuẩn mực kế toán. - Trình bày và cung cấp các thông tin, kể cả các chính sách kế toán thích hợp với nhu cầu ra quyết định của người sử dụng thông tin; đáng tin cậy; so sánh được và dễ hiểu. - Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của DN. Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp Theo chuẩn mực kế toán số 21 – Trình bày báo cáo tài chính (VAS21) việc lập và trình bày BCTC doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc sau: 1.
Hoạt động liên tục: BCTC phải được lập dựa trên giả định DN đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp 18 tục hoạt động kinh doanh bình thường trong một tương lai gần, trừ khi DN có ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình.