MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định được bao bọc bởi sông Đào và sông Đáy liên kết với nhau tạo thành hệ thống tưới tiêu tự nhiên, liên hoàn, kết hợp với đặc thù địa hình không bằng phẳng, có những vùng úng trũng cục bộ. Chính những đặc điểm về địa hình như thế là những yếu tố tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi thuỷ sản. Nhiều xã, thị trấn trong huyện Ý Yên đã khai thác phát huy tốt lợi thế này trong phát triển kinh tế.
Phương thức nuôi thuỷ sản của huyện đã chuyển dần từ quảng canh sang thâm canh, bán thâm canh cải tiến, hình thành một số vùng nuôi tập trung chủ yếu là cá truyền thống và những đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao như ba ba, cá rô phi đầu vuông, cá diêu hồng,. Đến năm 2018, tổng diện tích nuôi thủy sản của huyện đạt 1.174ha, tổng sản lượng là 5. Những năm gần đây, phương thức nuôi kết hợp cá - lúa cũng phát triển mạnh và đang là một sinh kế có tính bền vững của nông dân vùng đồng trũng. Đối tượng nuôi chủ yếu là cá trắm, chép, mè, trôi, rô phi và cá chim trắng.
Hiệu quả kinh tế từ kết hợp nuôi trồng lúa - cá so với sản xuất chuyên lúa trên cùng diện tích tăng hơn từ 2-3 lần. Trước đây, do nguồn ếch đồng (Rana rugulosa Wiegmann, 1835) tự nhiên ngày càng khan hiếm trong khi nhu cầu thực phẩm về ếch vẫn gia tăng. Nhiều mô hình nuôi ếch đồng trên cả nước đã hình thành và mang lại lợi nhuận cho nông dân góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và nâng cao thu nhập. Ếch đồng Việt Nam (Rana rugulosa Weigmann, 1835) đã được tiến hành nuôi ở nhiều địa phương trên cả nước, nhất là các tỉnh thành phía Nam, nhưng không đạt hiệu quả kinh tế cao do ếch đồng sinh trưởng chậm nên thời gian nuôi kéo dài, trọng lượng nhỏ,.
Ngược lại với ếch đồng, ếch Thái Lan tăng trưởng 9 và phát triển nhanh nên người nuôi ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng lựa chọn là đối tượng để phát triển kinh tế hộ gia đình, trong đó một số hộ gia đình ở tỉnh Nam Định và Ninh Bình chọn loài ếch này làm đối tượng nuôi chính nhằm tiếp tục phát triển kinh tế thủy sản hộ gia đình, tạo điều kiện tốt cho nguồn lực lao động địa phương, tăng thu nhập và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina Dubois, 1981) là đối tượng nuôi thuỷ đặc sản có giá trị kinh tế cao, có tiềm năng cho thị trường tiêu thụ rộng lớn ở Việt Nam. Với những ưu điểm như: thịt ếch ngon, có giá trị dinh dưỡng cao, tăng trọng nhanh, có thể chủ động về mặt con giống, hình thức nuôi và kỹ thuật nuôi đơn giản, thị trường tiêu thụ khá tốt, đặc biệt là loài ếch được thuần dưỡng nên chúng sử dụng thức ăn công nghiệp dễ dàng nên phù hợp cho hình thức nuôi thâm canh. Tuy nhiên trong những năm gần đây, việc sử dụng ếch bố mẹ qua nhiều thế hệ lai làm cho con giống thoái hóa, kém chất lượng, dịch bệnh, người nuôi chưa nắm rõ kỹ thuật nuôi,.
đây là những nguyên nhân làm cho con giống ếch Thái Lan có tỉ lệ sống giảm mạnh (trong những năm 2003 – 2006, tỉ lệ sống con giống từ 80 – 90% nhưng hiện nay tỉ lệ sống giảm từ 20 – 45% hoặc chỉ còn 3 – 5%) khiến cho người nuôi gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi nhu cầu tiêu thụ ếch tăng nhưng nguồn ếch thịt lại không không đủ cung ứng cho thị trường [3]. Sở dĩ tôi chọn hình thức nuôi ếch trong bể bạt dựng trên mặt đất mà không chọn hình thức nuôi ếch dưới ao hồ hay xây bể xi măng là vì ngoài việc tận dụng được diện tích đất trống, nuôi trong bể lót bạt còn thuận lợi hơn nhiều so với nuôi ao trong khâu vệ sinh và xử lý nguồn nước nên tỉ lệ hao hụt ít hơn, hơn nữa kỹ thuật làm bể bạt tiết kiệm chi phí hơn so với hình thức nuôi ếch trong bể xi măng, nuôi ếch trong lồng lưới ở dưới ao, hồ. Vì vậy, nghiên cứu sự sinh trưởng của ếch Thái Lan trong điều kiện nuôi bể bạt tại xã Yên Quang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là cơ sở khoa học giúp cho người nuôi ếch có thêm kỹ thuật giúp nâng cao năng xuất và hiệu quả kinh tế.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Bước đầu nghiên cứu sự sinh trưởng của 10 ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina) nuôi trong bể bạt tại xã Yên Quang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.” để thu thập những số liệu về đặc điểm sinh thái học của ếch Thái Lan thuần dưỡng đem nuôi. Góp phần phát triển nghề nuôi ếch Thái Lan đang được hình thành ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và các vùng lân cận. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ếch phân bố nhiều ở vùng nhiệt đới: Thái Lan, Đài Loan, Cuba, Việt Nam,. Họ Ếch nhái (Ranidae) phân bố ở Bắc Mỹ, phía bắc Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Madagascar, Châu Phi, và từ Đông Ấn đến New Guinea và đây là một trong những họ lớn nhất của lớp lưỡng cư (Amphibia) bao gồm 46 giống và 555 loài (Ngô Trọng Lư, 2000).
[5] Lưỡng cư không đuôi (Anura) sống chủ yếu phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới ẩm. Ở Việt Nam có khoảng 86 loài như: ếch đồng, ếch cốm,.đặc biệt có nhiều loài có kích thước lớn, có giá trị thực phẩm đặc sản cao như: ếch trơn (Rana kuhli), ếch vạch (Rana microlineata), ếch gai (Rana spinosa),. Đài Loan đã phát triển nghề nuôi ếch công nghiệp từ những năm 90 với loài ếch (Rana tigrina pan therina, Figzinger), sau đó nhập ếch bò Nam Mỹ (Rana catesbeiana) để nuôi. Tuy nhiên do khí hậu lạnh về mùa đông nên chỉ nuôi được tám đến chín tháng (Lochen, 1990).
Nghề nuôi ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina) đã bắt đầu từ những thập niên 80 tại Thái Lan (Putsatee và ctv, 1995). Trong năm 1995, Thái Lan đã có trên 300 trại nuôi ếch với quy mô công nghiệp. [17] Tại Việt Nam, ếch sử dụng làm thực phẩm, các tác giả nghiên cứu về ếch được kể đến là Bourret.R với các công trình công bố từ 1934-1943; Đào Văn Tiến, Lê Vũ Khôi, 1965; Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quốc Thắng, 1977; Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, 1981; Hoàng Xuân Quang, 1993; Trần Kiên, 1996; Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, 1996;. Phần lớn là 11 những nghiên cứu về phân loại, khu hệ và sơ lược về đặc điểm sinh học của ếch nhái nói chung và ếch đồng nói riêng.
Năm 2017, với nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy và Lý Lương Hiền về ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau lên tỷ lệ sống và tăng trưởng nòng nọc của ếch Thái (Rana tigerina). [5,6,15] Ếch được nuôi vào đầu những năm 60 với giống ếch bò Nam Mỹ (Rana catesbeiana) nhập từ Cuba. Từ năm 1993, việc nghiên cứu ếch đồng trong điều kiện nuôi mới bắt đầu được chú ý. Mới đầu là các tài liệu phổ biến kỹ thuật nuôi của Nguyễn Lân Hùng, Phạm Báu, 1993,1994; tiếp đến là một số công bố của Nguyễn Kim Tiến, 1995; Trần Kiên, 1996; Trần Kiên, Nguyễn Kim Tiến, 1997, 1998 và Nguyễn Kim Tiến, Trần Kiên, 1998.
Tuy nhiên, việc nuôi loài ếch này đem lại hiệu quả kinh tế không cao. Sau đó, Miền Bắc lại bắt đầu nuôi ếch theo quy mô hộ gia đình với giống ếch đồng Việt Nam (Rana rugulosa Weigmann, 1835) và mô hình này cũng cho kết quả ban đầu, song nhiều gia đình chưa đạt được kết quả như mong muốn. Từ đó, ngày càng có nhiều hộ gia đình nuôi ếch đồng trong vườn, bể, ruộng (Trần Kiên, 1996). [8,13] Với ếch đồng, thường thì nông dân nuôi theo phương pháp thủ công dân gian, nguồn giống lấy chủ yếu ngoài tự nhiên, sử dụng các loại thức ăn tự nhiên như sâu bọ, côn trùng, giun, bướm và các loại cá tạp.
Do đó, việc nuôi thường không đem lại hiệu quả kinh tế cao do tỷ lệ sống của ếch đồng thấp, sản lượng thấp, thời gian sinh trưởng kéo dài. Từ những lý do đó, ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina) đã được nhập vào Việt Nam và được nuôi phổ biến ở cả miền nam và miền bắc Việt Nam do ếch Thái Lan có thời gian sinh trưởng ngắn hơn ếch đồng, thịt ngon, hiệu quả kinh tế cao, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Ngoài ra Việt Nam còn nhập ếch bò (Rana catesbeiana) từ Nam và Trung Mỹ như: Cuba, Mexico, Braxil về 12 nuôi và loài ếch này được nuôi chủ yếu ở phía Bắc của đất nước (Putsatee và ctv, 1995). [17] Phía bắc Việt Nam nghề nuôi ếch Thái Lan phát triển ở các tỉnh như: Đông Anh (Hà Nội), Hiệp Hòa (Bắc Giang), Yên Phong (Bắc Ninh), Thạch Thất (Hà Nội), Tứ Kỳ (Hải Dương), còn phía nam Việt Nam ếch chủ yếu nuôi ở một số tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Long An, Bình Dương, Tây Ninh,.
Năm 2001 – 2002, ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina) được nuôi thử nghiệm ở Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, và sau đó phát triển mạnh ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2005 (Báo SGGP, số ngày 19/8/2005). Thịt ếch được đánh giá là một nguồn protein ưu việt, có thể thay thế một số nguồn protein động vật khác (Omoniyi, L.O và ctv, 2012) và là đặc sản được tiêu thụ nhiều trong nước và có tiềm năng xuất khẩu ra nhiều thị trường như Mỹ, EU, Đài Loan,. Từ năm 2003 đến năm 2006, sản lượng đùi ếch xuất khẩu của Việt Nam đạt 2199 tấn, với giá trị hơn 11 triệu USD (Cơ sở dữ liệu thống kê thương mại hàng hóa của Liên hợp quốc năm 2010 (Trần Hồng Thủy, 2013). [11] Ở miền nam Việt Nam, nghề nuôi ếch phổ biến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng nuôi chủ yếu là ếch Thái Lan, số ít nuôi ếch đồng. Những năm gần đây, mô hình nuôi ếch Thái Lan ở miền nam phát triển mạnh ở quy mô nông hộ với diện tích vài chục đến vài trăm mét vuông và đem lại thu nhập đáng kể cho nông dân trên cả nước đặc biệt là các tỉnh ĐBSCL. Mô hình nuôi ếch Thái Lan tính đến thời điểm hiện tại có thể nói là dễ làm, hiệu quả khá cao, bởi chỉ cần diện tích khoảng vài chục mét vuông là có thể tổ chức nuôi ếch với lợi nhuận hàng chục triệu đồng mỗi năm. Tuy nhiên, bên cạnh những hộ nuôi ếch mang lại hiệu quả cao thì vẫn có một số hộ nuôi ếch thất bại.