Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2016–2020), nền kinh tế Việt Nam đạt được những bước tăng trưởng đáng kể với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016–2019 đạt 6,78%/năm (năm 2016 đạt 6,21%, năm 2017 đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7,08% và năm 2019 đạt 7,02%), cao hơn 0,87% so với giai đoạn 2011–2015. Tuy nhiên, cùng với độ mở kinh tế lớn và tác động tiêu cực từ các biến động quốc tế như chiến tranh thương mại Mỹ - Trung cùng đại dịch Covid-19, sức chống chịu của nhiều doanh nghiệp bị suy giảm rõ rệt. Hệ quả là số lượng doanh nghiệp giải thể gia tăng nhanh chóng, đạt mức 19.675 doanh nghiệp vào năm 2017 (tăng 62,4% so với năm trước đó).

Nhằm tạo hành lang pháp lý tương thích với tình hình mới và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 (thay thế Luật Doanh nghiệp 2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 03/2022/QH15. Xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa đường lối của Đảng và tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn trong việc chấm dứt hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, đề tài "Giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp" được tác giả lựa chọn nghiên cứu với các nội dung cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

    • Một là: Trình bày, phân tích toàn diện các quy định pháp luật về các trường hợp, điều kiện, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp và các hoạt động bị cấm kể từ khi có quyết định giải thể theo Luật Doanh nghiệp 2020.
    • Hai là: Đánh giá thực trạng các quy định hiện hành, chỉ ra các điểm bất cập, mâu thuẫn và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật phù hợp.
  2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) về giải thể doanh nghiệp và thực tiễn thi hành các quy định này.
    • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định chung điều chỉnh việc giải thể 04 loại hình doanh nghiệp cơ bản gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (từ Điều 207 đến Điều 211 Luật Doanh nghiệp 2020); không đi sâu vào các loại hình doanh nghiệp chuyên ngành đặc thù. Không gian nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam, cập nhật hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tính đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu pháp lý (phân tích quy phạm và đánh giá hoàn thiện pháp luật), vận dụng các khái niệm, quy chuẩn và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng lý thuyết:

  • Văn bản pháp luật nền tảng: Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022), Bộ luật Dân sự 2015, Luật Phá sản 2014, Luật Quản lý thuế 2019, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Tố tụng hành chính 2015, Luật Trọng tài thương mại 2010 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp phân tích: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 nhằm làm rõ từng yếu tố cấu thành của chế định giải thể (khái niệm, đặc điểm, căn cứ, điều kiện, thủ tục và các hành vi bị cấm).
    • Phương pháp tổng hợp: Sử dụng nhằm xâu chuỗi, liên kết các vướng mắc phát sinh từ thực tế áp dụng luật tại Chương 2, từ đó khái quát hóa bức tranh thực trạng pháp lý.
    • Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Sử dụng để tiếp thu, đối chiếu và phản biện các kết quả nghiên cứu, quan điểm học thuật từ các công trình khoa học trước đó nhằm xây dựng luận cứ cho hệ thống kiến nghị hoàn thiện.
  • Nguồn dữ liệu: Giáo trình chuyên ngành của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tài liệu hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2021 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), các công trình nghiên cứu sách chuyên khảo (tác giả Trương Thanh Đức, Phạm Hoài Huấn), các luận văn thạc sĩ (Đặng Văn Hiệp, Phạm Khắc Hoan, Hoàng Thị Huế, Nguyễn Văn Phương, Vũ Thị Quyên, Trần Sâm) và các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về giải thể doanh nghiệp

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận và phân tích chi tiết hệ thống quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 điều chỉnh hoạt động giải thể doanh nghiệp.

  • Khái niệm và đặc điểm: Trên cơ sở khảo cứu các quan điểm học thuật hiện có, tác giả xác định: "Giải thể doanh nghiệp là thủ tục pháp lý chấm dứt hoạt động doanh nghiệp bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp nhằm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ tài sản theo quy định". Chế định này mang 04 đặc điểm bản chất:

    1. Mang hệ quả pháp lý làm chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại của doanh nghiệp (xóa tên trong sổ đăng ký doanh nghiệp, chấm dứt hiệu lực mã số thuế).
    2. Về bản chất là một thủ tục hành chính chịu sự điều chỉnh của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.
    3. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau (tự nguyện theo ý chí chủ sở hữu hoặc bắt buộc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
    4. Buộc doanh nghiệp phải hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng và nợ thuế trước khi chấm dứt tồn tại.
  • Phân biệt giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp:

STT Tiêu chí so sánh Giải thể doanh nghiệp Phá sản doanh nghiệp
1 Văn bản pháp luật điều chỉnh Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật Phá sản 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2 Bản chất thủ tục Thủ tục hành chính. Thủ tục tư pháp do Tòa án nhân dân tiến hành.
3 Nguyên nhân phát sinh Do hết hạn hoạt động; theo quyết định nội bộ; không đủ số lượng thành viên tối thiểu trong 06 tháng; bị thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN; theo quyết định của Tòa án. Do doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị Tòa án tuyên bố phá sản.
4 Cơ quan thực hiện Cơ quan đăng ký kinh doanh (Phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư). Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh.
5 Chủ thể có quyền yêu cầu Chủ DNTN; HĐTV công ty hợp danh; HĐTV/Chủ sở hữu công ty TNHH; ĐHĐCĐ công ty cổ phần. Chủ nợ; người lao động, công đoàn; cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu từ 20% cổ phần phổ thông trở lên (hoặc dưới 20% nếu Điều lệ quy định).
6 Trình tự, thủ tục Thông qua quyết định $\rightarrow$ Thực hiện nghĩa vụ tài sản $\rightarrow$ Nộp hồ sơ $\rightarrow$ Cập nhật trạng thái "Đã giải thể". Nộp đơn $\rightarrow$ Thụ lý $\rightarrow$ Mở thủ tục $\rightarrow$ Hội nghị chủ nợ $\rightarrow$ Tuyên bố phá sản $\rightarrow$ Thi hành quyết định.
7 Nghĩa vụ tài sản Bắt buộc phải hoàn tất toàn bộ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản trước khi giải thể. Doanh nghiệp có thể được giải phóng khỏi các khoản nợ chưa thanh toán hoặc thanh toán không đủ.
8 Thứ tự thanh toán nợ (1) Nợ lương, trợ cấp, BHXH, BHYT, BHTN của người lao động; (2) Nợ thuế; (3) Các khoản nợ khác. (1) Chi phí phá sản; (2) Quyền lợi người lao động; (3) Nợ phát sinh sau khi mở thủ tục; (4) Nghĩa vụ tài chính nhà nước và nợ không bảo đảm/nợ có bảo đảm chưa thanh toán hết.
9 Hạn chế đối với người quản lý Không bị hạn chế quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp mới sau khi giải thể. Người quản lý có thể bị cấm thành lập, làm người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 03 năm kể từ ngày có quyết định tuyên bố phá sản.
  • Các trường hợp và điều kiện giải thể: Luật Doanh nghiệp 2020 quy định 05 trường hợp giải thể tại Điều 207 và Điều 209 (hết thời hạn hoạt động theo Điều lệ; theo nghị quyết/quyết định của nội bộ doanh nghiệp; không đủ số lượng thành viên tối thiểu liên tục 06 tháng; bị thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN; theo quyết định của Tòa án). Điều kiện giải thể gồm: thuộc một trong các trường hợp luật định; bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản; và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài.
  • Trình tự, thủ tục và các hoạt động bị cấm: Phân định rõ 02 quy trình: giải thể tự nguyện (06 bước) và giải thể bắt buộc (do bị thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN hoặc theo quyết định của Tòa án). Đồng thời phân tích 07 nhóm hành vi bị nghiêm cấm kể từ khi có quyết định giải thể quy định tại Điều 211 (cất giấu tài sản, từ bỏ quyền đòi nợ, chuyển nợ không bảo đảm thành có bảo đảm, ký kết hợp đồng mới không vì mục đích giải thể, tặng cho/cho thuê tài sản, chấm dứt hợp đồng đang có hiệu lực, huy động vốn dưới mọi hình thức).

Chương 2: Thực trạng quy định về giải thể doanh nghiệp và kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 chỉ rõ các "khoảng trống" và sự thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật hiện hành, chia thành 03 nhóm vướng mắc lớn:

  • Vướng mắc về trường hợp và điều kiện giải thể:

    1. Thiếu cơ chế giải thể đối với doanh nghiệp tư nhân khi chủ doanh nghiệp chết: Trường hợp chủ DNTN qua đời mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc người thừa kế thuộc đối tượng bị cấm thành lập/quản lý doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 17 thì luật chưa có căn cứ trực tiếp để tiến hành giải thể, do DNTN không có Điều lệ, không có thành viên và không thể áp dụng các trường hợp giải thể tự nguyện hay thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN thông thường.
    2. Quy định giải thể theo quyết định của Tòa án thiếu tính khả thi: Điều 209 Luật Doanh nghiệp 2020 ghi nhận thẩm quyền của Tòa án nhưng không quy định căn cứ, trình tự cụ thể; đồng thời các đạo luật tố tụng (Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Tố tụng hành chính 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015) đều không trao thẩm quyền tuyên bố giải thể doanh nghiệp cho Tòa án.
    3. Mâu thuẫn trong điều kiện thanh toán nghĩa vụ tài sản: Khoản 2 Điều 207 chỉ yêu cầu "bảo đảm thanh toán hết" (mang tính khả năng), nhưng Điều 208 và Điều 209 lại bắt buộc "đã thanh toán hết" trên thực tế mới được nộp hồ sơ giải thể.
    4. Thiếu vắng điều kiện về nghĩa vụ môi trường: Luật hiện hành chỉ chú trọng nghĩa vụ tài chính và thuế mà bỏ quên việc đánh giá, xử lý dứt điểm các nghĩa vụ phục hồi môi trường, xử lý chất thải theo chủ trương phát triển kinh tế xanh của Đại hội Đảng lần thứ XIII.
  • Vướng mắc về trình tự, thủ tục giải thể:

    1. Địa điểm niêm yết quyết định giải thể chưa bao quát: Luật chỉ quy định niêm yết tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, chưa tính đến các địa điểm kinh doanh, đại lý, cơ sở phân phối bán lẻ nơi trực tiếp phát sinh giao dịch với người lao động và chủ nợ; thiếu quy định về thời gian, hình thức niêm yết.
    2. Bỏ sót cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) trong nghĩa vụ gửi thông báo: Trình tự giải thể không buộc doanh nghiệp gửi trực tiếp quyết định cho cơ quan BHXH, làm chậm tiến độ chốt sổ và bảo đảm chế độ cho người lao động.
    3. Hạn chế về chủ thể nộp hồ sơ: Quy định chỉ cho phép người đại diện theo pháp luật nộp hồ sơ gây bế tắc khi cá nhân này gặp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (tai nạn, ốm đau, thiên tai) trong thời hạn luật định 05 ngày làm việc.
    4. Thiếu quy định phân chia tài sản còn lại trong giải thể bắt buộc: Điều 209 không quy định nguyên tắc phân chia phần tài sản dư thừa sau khi đã trả hết nợ trong trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN hoặc giải thể theo quyết định Tòa án (trong khi giải thể tự nguyện có quy định tại khoản 6 Điều 208).
    5. Thủ tục hành chính trùng lặp: Bắt buộc doanh nghiệp nộp lại bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN hoặc bản sao quyết định của Tòa án cho chính Cơ quan đăng ký kinh doanh – nơi vốn đã ban hành hoặc tiếp nhận văn bản gốc, đi ngược lại mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính theo Nghị quyết 76/NQ-CP.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu:

    • Khóa luận làm rõ bức tranh thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với quá trình giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành đến năm 2022.
    • Phân tích và chỉ rõ 05 điểm nghẽn về trường hợp/điều kiện giải thể cùng 05 điểm bất hợp lý trong quy trình hành chính giải thể bắt buộc và tự nguyện.
  • Hệ thống giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

    1. Bổ sung căn cứ giải thể DNTN: Kiến nghị sửa đổi Luật Doanh nghiệp, bổ sung trường hợp giải thể đương nhiên đối với doanh nghiệp tư nhân khi chủ doanh nghiệp chết mà không có người thừa kế hợp pháp hoặc người thừa kế không đủ điều kiện/từ chối quản lý.
    2. Hoàn thiện thẩm quyền của Tòa án: Sửa đổi các luật tố tụng hoặc ban hành nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định rõ căn cứ, thẩm quyền giải thể doanh nghiệp của Tòa án.
    3. Thống nhất quy định nghĩa vụ tài sản: Chuẩn hóa khái niệm giữa "bảo đảm thanh toán" và "thực tế thanh toán" để tránh xung đột cách hiểu; bổ sung điều kiện hoàn thành trách nhiệm bảo vệ môi trường trước khi chấm dứt hoạt động.
    4. Cải cách thủ tục hành chính: Bổ sung cơ quan BHXH vào danh sách nhận thông báo giải thể; cho phép ủy quyền thực hiện nộp hồ sơ khi người đại diện theo pháp luật gặp trở ngại khách quan; bãi bỏ quy định nộp lại bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN cho Cơ quan đăng ký kinh doanh; bổ sung quy định phân chia tài sản còn lại trong giải thể bắt buộc.
  • Đóng góp học thuật: Khắc phục tính lỗi thời của các công trình nghiên cứu trước đây (vốn dựa trên Luật Doanh nghiệp 2005, 2014) và khắc phục hạn chế về phạm vi địa phương hẹp của các luận văn thạc sĩ trước đó (chỉ nghiên cứu riêng tại Sơn La, Quảng Bình hoặc áp dụng trên một doanh nghiệp cổ phần đơn lẻ).


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:

    • Phạm vi nghiên cứu mới dừng lại ở các quy định chung áp dụng cho 04 loại hình doanh nghiệp phổ quát (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần), chưa bao quát quy chế giải thể của các định chế tài chính, bảo hiểm, ngân hàng và doanh nghiệp đặc thù.
    • Đề tài tập trung chủ yếu vào phương diện lý luận và phân tích kỹ thuật lập pháp, chưa có điều kiện khảo sát số liệu thực tế về các vụ việc giải thể bị đình trệ trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng:

    • Nghiên cứu sâu cơ chế chuyển tiếp linh hoạt từ thủ tục giải thể sang thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản.
    • Đánh giá cơ chế bảo vệ quyền lợi của người lao động và chủ nợ thứ cấp trong bối cảnh số hóa thủ tục đăng ký kinh doanh quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên ngành Luật (chuyên ngành Luật Thương mại, Luật Kinh tế): Tài liệu hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu các học phần Pháp luật về chủ thể kinh doanh, Pháp luật thương mại và Kỹ năng tư vấn doanh nghiệp.
    • Người làm nghiên cứu, tác giả đề tài tốt nghiệp: Cung cấp khung phương pháp luận so sánh giữa giải thể và phá sản; hệ thống trích dẫn các tài liệu chuyên khảo và bài báo khoa học liên quan đến chế định giải thể.
    • Cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về các điểm nghẽn thủ tục hành chính để phục vụ công tác rà soát, cắt giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp khi rút lui khỏi thị trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa khái niệm giải thể doanh nghiệp như thế nào?
Tác giả định nghĩa: "Giải thể doanh nghiệp là thủ tục pháp lý chấm dứt hoạt động doanh nghiệp bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp nhằm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ tài sản theo quy định". Định nghĩa này nhấn mạnh giải thể là một "thủ tục" có trình tự hành chính chặt chẽ, gắn liền với phương thức thanh lý tài sản và mục đích hoàn tất nghĩa vụ nợ.

2. Điểm khác nhau căn bản giữa giải thể và phá sản doanh nghiệp trong khóa luận là gì?
Khóa luận phân biệt dựa trên 09 tiêu chí, trong đó căn bản nhất là: Giải thể là thủ tục hành chính thực hiện tại Cơ quan đăng ký kinh doanh và doanh nghiệp bắt buộc phải hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ nợ mới được chấm dứt hoạt động; ngược lại, Phá sản là thủ tục tư pháp do Tòa án nhân dân tiến hành khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, và doanh nghiệp có thể được giải phóng khỏi các khoản nợ chưa thanh toán đủ sau khi có quyết định tuyên bố phá sản.

3. Khóa luận chỉ ra khoảng trống pháp lý nào đối với việc giải thể doanh nghiệp tư nhân khi chủ doanh nghiệp qua đời?
Nếu chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc người thừa kế thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp thì doanh nghiệp rơi vào tình trạng vô chủ nhưng không thể áp dụng bất kỳ trường hợp giải thể nào tại Điều 207 (không có Điều lệ, không áp dụng điều kiện số lượng thành viên, chủ thể đã chết không thể tự ra quyết định và không thuộc các trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN theo Điều 212).

4. Vì sao việc yêu cầu nộp bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN cho Cơ quan đăng ký kinh doanh bị coi là bất cập?
Bởi vì Cơ quan đăng ký kinh doanh chính là cơ quan ban hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN và đang trực tiếp lưu trữ văn bản gốc. Việc buộc doanh nghiệp nộp lại bản sao giấy tờ này trong hồ sơ giải thể là sự trùng lặp không cần thiết, làm tăng thủ tục hành chính và đi ngược lại tinh thần cải cách hành chính theo Nghị quyết 76/NQ-CP của Chính phủ.

5. Khóa luận đề xuất bổ sung trách nhiệm nào của doanh nghiệp trước khi giải thể ngoài nghĩa vụ tài sản?
Khóa luận đề xuất bổ sung nghĩa vụ bảo vệ và phục hồi môi trường vào điều kiện giải thể bắt buộc, yêu cầu doanh nghiệp phải hoàn thành việc xử lý ô nhiễm, khắc phục các vi phạm môi trường và giải quyết các cam kết sinh thái trước khi được cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên khỏi sổ đăng ký doanh nghiệp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật "Giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp" của sinh viên Trần Thị Lang Tiên là công trình nghiên cứu pháp lý có hệ thống, phản ánh chi tiết các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành tính đến năm 2022. Đề tài đã phân định rõ cơ sở lý luận, so sánh đa chiều giữa giải thể và phá sản, đồng thời phát hiện nhiều bất cập lập pháp liên quan đến việc giải thể doanh nghiệp tư nhân, thẩm quyền của Tòa án và sự rườm rà trong thủ tục hành chính. Các giải pháp do tác giả đề xuất bám sát định hướng cải cách hành chính và phát triển bền vững, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam.