Chương 1 CÁC NHÂN TỐ QUY ĐỊNH HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI 1. Cơ sở lý luận và chủ trương, chính sách của Việt Nam 1. Cơ sở lý luận Nhìn vào lịch sử phát triển của xã hội loài người thì sự hình thành quan hệ quốc tế là nhu cầu khách quan, thiết yếu của sự vận động và phát triển của mỗi cộng đồng dân tộc trong quá trình lịch sử. Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã tác động và thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế, thúc đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Tính chỉnh thể và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc ngày càng tăng lên, các vấn đề toàn cầu ngày càng cấp bách đòi hỏi sự hợp tác sâu rộng giữa các chủ thể quốc tế để cùng nhau giải quyết.
Quá trình toàn cầu hóa cùng sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Như vậy, chính sự phát triển chung của văn minh nhân loại, của tiến bộ xã hội, trí tuệ và năng lực của con người và mỗi cộng đồng quốc gia dân tộc cũng như nhu cầu khách quan của sự phát triển hướng tới tương lai của các dân tộc đã quy định sự phát triển ngày càng sâu rộng các mối quan hệ và hợp tác quốc tế. Ở lĩnh vực giáo dục, hợp tác quốc tế lại càng khẳng định được vai trò của mình như một xu thế không thể đảo ngược. Từ xưa đến nay, giáo dục luôn được coi là nền tảng cơ bản làm thay đổi và cải tiến con người – yếu tố quan trọng cấu thành nên sức mạnh quốc gia.
Không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển mà không ưu tiên đầu tư cho giáo dục, nhất là trong thời đại mà kinh tế tri thức đã đẩy sự phân hóa giữa các nước phát triển và đang phát triển lên mức độ ngày càng cao hơn, ở quy mô lớn hơn. Bởi vậy, giáo dục phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để phục vụ tốt các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Trong một thế giới biến đổi không ngừng với các thách thức ngày càng gia tăng, trọng trách nặng nề của giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao để thích ứng, tồn tại và phát triển ở môi trường cạnh tranh khốc liệt. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, các trường đại học phải có năng lực mang tính toàn cầu với những mối quan hệ có tính chất quốc tế dưới nhiều hình thức.
Vậy hợp tác quốc tế có vai trò như thế nào và đem lại lợi ích gì cho giáo dục đại học? Hợp tác quốc tế được coi như một chiến lược trong tiến trình cải cách và là một trong những giải pháp để đổi mới giáo dục đại học, hội nhập quốc tế của Việt Nam. Về tổng thể, hoạt động hợp tác quốc tế tại một trường đại học có nhiệm vụ nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và là điều kiện tiên quyết đối với hội nhập của giáo dục đại học. Hợp tác quốc tế giúp các trường đại học thiết lập được nhiều hình thức hợp tác đa dạng, phong phú với các dự án, chương trình phối hợp đào tạo, hợp tác song phương, đa phương… Trong quá trình đó, chúng ta có thể khai thác các cơ hội, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại thông qua các chương trình nghiên cứu chung, liên kết với các đối tác nước ngoài để từng bước chuẩn hoá các chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu các tiêu chuẩn quốc tế nhằm tiến tới quốc tế hoá các chương trình, giáo trình đại học, sau đại học… Cũng nhờ đó, các sinh viên, giảng viên của Việt Nam có cơ hội được đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, trao đổi văn hóa ở nước ngoài và mở rộng tầm nhìn ra thế giới. Ngược lại, chúng ta cũng được đón tiếp các giảng viên, chuyên gia, lưu học sinh từ các đối tác nước ngoài đến tham quan, học tập, nghiên cứu, đồng tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học.
Đây là một cơ hội tốt nếu các trường đại học biết cách tận dụng để giới thiệu và nâng cao uy tín, tên tuổi của mình ở khu vực và trên thế giới. Có thể nói hoạt 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động này đã góp phần đưa tinh hoa của nền giáo dục tiên tiến vào Việt Nam, đồng thời cũng phần nào quảng bá, đưa hình ảnh giáo dục Việt Nam ra thế giới, là cầu nối giúp giáo dục đại học Việt Nam hội nhập và tiến lên. Thêm vào đó, công tác quan hệ quốc tế còn đóng góp tích cực cho việc nâng cấp, hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ mới,… phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học cũng như thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam. Các dự án quốc tế hỗ trợ một phần rất quan trọng, khắc phục các khó khăn về nguồn lực cho các trường đại học ở nước ta.
Ngoài ra, chúng ta cũng không thể phủ nhận những yếu tố tích cực mà công tác quan hệ quốc tế đem lại trong việc xây dựng định hướng và đổi mới giáo dục, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng để phục vụ đắc lực sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Quá trình này cũng mang đến cho các trường đại học Việt Nam những kinh nghiệm quý giá trong việc đổi mới tư duy, phương thức quản lý giáo dục, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống và quy trình đào tạo, kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời biết tận dụng thời cơ và lợi thế để từng bước kéo gần khoảng cách giữa giáo dục Việt Nam với thế giới. Như vậy, có thể khẳng định hợp tác quốc tế là cơ hội tốt mà các trường đại học cần phải biết nắm bắt và tận dụng hiệu quả, cũng là môi trường để các cơ sở đào tạo này được cọ xát, học hỏi, cạnh tranh, tự đánh giá năng lực của mình và có động lực phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ hơn. Chính sách đối ngoại và định hướng hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo Việt Nam Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Không phải tới lúc này, Việt Nam mới có hợp tác quốc tế. Những năm trước đó, quá trình hợp tác quốc tế của Việt Nam mới chỉ chủ yếu tập trung vào các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển, các nước dân tộc chủ nghĩa. Phải từ khi này, sự hợp tác quốc tế của Việt Nam mới mở rộng sang các nước, khu vực và các tổ chức quốc tế. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về công tác đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta xác định nhiệm vụ công tác đối ngoại là: “…giữ vững môi trường hoà bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”1.
Để đạt được điều đó và để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, quan điểm cơ bản chỉ đạo công tác đối ngoại là: - Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. - Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững, phát triển quan hệ với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ trên thế giới và theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, giải quyết các bất đồng và các tranh chấp thông qua bằng thương lượng hoà bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng cùng có lợi.
- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. - Tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại là giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất, chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực với đặc điểm từng đối tượng quan hệ. 1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong lĩnh vực giáo dục, nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định một trong bảy quan điểm chỉ đạo là “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước”.
Mục tiêu của đổi mới nhằm tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân.