MỞ ĐẦU 1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, hợp tác lao động quốc tế đã trở thành một xu hướng tất yếu giữa các quốc gia trên thế giới.Hợp tác lao động quốc tế góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển bền vững đối với nhiều quốc gia trên thế giới, ngay cả trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhận thức được xu thế này và thấy được tầm quan trọng của hợp tác lao động đối với việc giải quyết việc làm, phát triển kinh tế, xã hội trong nước cũng như mối quan hệ đối ngoại với các nước khác trên thế giới, Đảng, Chính phủ và Nhà nước Việt Nam đã đặt hợp tác lao động quốc tế trở thành một trong những vấn đề trọng tâm của chính sách, mang tính chiến lược và lâu dài. So với nhiều nước khác, Việt Nam tham gia vào thị trường lao động quốc tế khá muộn, hoạt động hợp tác lao động bắt đầu từ năm 1980 chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa, trong tình hình kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn.
Từ năm 1991, khi cơ chế có sự thay đổi, hoạt động hợp tác lao động phát triển mạnh mẽ, mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ. Bước sang thế kỷ 21, có sự tăng đột biến lượng lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, trong đó có một số thị trường chính như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia. Malaysia là một trong những quốc gia phát triển trong khu vực Đông Nam Á, có trình độ phát triển kinh tế, khoa học công nghệ tương đối cao, đặc biệt có nhu cầu lớn về nguồn lao động, không đòi hỏi lao động có trình độ cao như các nước phát triển khác. Hoạt động hợp tác đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia bắt đầu từ năm 2002, đến năm 2003 Bản ghi nhớ (MOU) về cung ứng lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia giữa hai chính phủ đã đánh dấu mốc quan trọng đưa quan hệ hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia lên một tầm cao mới.
Sau hơn 10 năm, Malaysia là một trong những thị trường xuất khẩu lao động 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính của Việt Nam với khoảng hơn 80.000 lao động đang làm việc tại 12/13 bang của Malaysia trong một số lĩnh vực kinh tế không yêu cầu trình độ cao. Hợp tác lao động quốc tế góp phần giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho nhiều người dân, tăng nguồn thu ngoại tệ và nhiều lợi ích khác đối với mọi mặt đời sống của đất nước. Hiện nay, Malaysia vẫn là thị trường xuất khẩu lao động truyền thống hấp dẫn với người lao động Việt Nam, với chi phí xuất cảnh thấp, thu nhập ở mức trung bình khá, phù hợp với các đối tượng người lao động phổ thông tại Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăncó thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ Việt Nam – Malaysia nói chung.
Từ tình hình thực tế trên và nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác lao động giữa Việt Nam – Malaysia, tác giả lựa chọn đề tài “Hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia (2003-2014)”. Thông quan các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế với việc coi Nhà nước là chủ thể hành động, luận văn nhằm mục tiêu phân tích, đánh giá những mặt tích cực, tiêu cực, các yếu tố tác động, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất phương hướng giải quyết vấn đề để đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia, đóng vai trò tích cực vào sự phát triển đường lối đối nội, đối ngoại của đất nước. Trong phạm vi nghiên cứu về quan hệ hợp tác lao động, tác giả tập trung vào nghiên cứu quan hệ xuất khẩu lao động (XKLĐ) phổ thông– là một nội dung chính của hợp tác lao động quốc tế từ Việt Nam sang Malaysia để thấy được sự tiềm năng, hấp dẫn của thị trường lao động này đối với người lao động Việt Nam. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Với tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác lao động giữa Việt Nam – Malaysia, ở nước ta và trên thế giới đã có một số luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ, sách báo, tạp chí đề cập đến vấn đề này như: Nguyễn Thanh Tùng (2015): Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Malaysia: Thực trạng và giải pháp – Luận án Tiến sĩ kinh tế: Tác giả xuất phát từ việc phân tích cặn kẽ các khái niệm và lý thuyết về xuất khẩu lao động; hoạt động xuất khẩu lao động của các nước trong khu vực Đông Nam Á, hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam với nhiều thị trường tiếp nhận lao động trên thế giới. Từ đó tác giả phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động từ Việt Nam sang Malaysia trong mối quan hệ so sánh với các thị trường khác để thấy được những ưu điểm và hạn chế. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thanh Tùng phân tích sự thay đổi của bối cảnh quốc tế, khu vực, tiềm năng của hai nước Việt Nam và Malaysia để rút ra triển vọng quan hệ lao động giữa hai nước và đề xuất những hướng đi cần thiết với từng đối tượng Nhà nước, công ty môi giới XKLĐ, người lao động Việt Nam để hoạt động này có hiệu quả hơn. Nguyễn Thị Phương Linh (2004): Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính về xuất khẩu lao động Việt Nam theo cơ chế thị trường – Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Tác giả nêu lên cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu lao động và quản lý tài chính vĩ mô với xuất khẩu lao động.
Kinh nghiệm quản lý XKLĐ và quản lý tài chính về XKLĐ ở châu Á. Thực tiễn hoạt động và quản lý tài chính về XKLĐ ở Việt Nam và các giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới. Trần Thị Thu (2006): Nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay – Sách chuyên khảo: Tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp và định hướng giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động nhưng dừng lại ở cấp độ doanh nghiệp. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hoàn: Quản lý Nhà nước đối với XKLĐ của Việt Nam giai đoạn hiện nay – Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Tác giả đi sâu phân tích vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu trong giai đoạn hiện tại.
Nguyễn Thị Hồng Bích (chủ biên), Hoàng Minh Hà, Phú Văn Hẳn (2007): Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á – kinh nghiệm và bài học: Nhóm tác giả phân tích hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong sự so sánh với các nước Đông Nam Á để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng chính sách, tổ chức và quản lý XKLĐ cũng như trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình xuất khẩu lao động, nhằm phục vụ cho việc tham gia một cách có hiệu quả vào thị trường lao động quốc tế. Nhập cư ở Malaysia: Đánh giá về hiệu quả kinh tế, chính sách và hệ thống (Immigration in Malaysia: Assessment of its Economic Effects, and a Review of the Policy and System) – Bản báo cáo của Ngân hàng Thế Giới và Bộ Nguồn Nhân Lực Malaysia công bố năm 2013. Bản báo cáo đưa ra những con số cụ thể, những phân tích và dẫn chứng cho hoạt động nhập cư vào Malaysia, trong đó có lao động nhập cư, từ đó đánh giá tương đối những mặt tích cực và tiêu cực của nhập cư đối với mọi mặt của đất nước này. Bản báo cáo cũng đưa ra nhận xét về hệ thống chính sách quản lý tình hình nhập cư của Chính phủ Malaysia.
Di cư lao động quốc tế từ Việt Nam đến các nước châu Á, 2000-2009: Quá trình, thực trạng và tác động (International Labour Migration From Vietnam To Asian Countries, 2000-2009: Process, Experiences and Impact) là công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển xã hội thuộc Đại học Western Ontario, Canada năm 2009. Nghiên cứu thực hiện dựa trên các số liệu thống kế được công bố của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội Việt Nam và phỏng vấn người lao động Việt Nam đang làm việc tại các nước châu Á đến từ ba tỉnh: Hà Tĩnh, Thái Bình và Hà Tây. Nhóm nghiên cứu đã phân tích những điểm mạnh và yếu của lao 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động Việt Nam khi làm việc tại nước ngoài trong sự so sánh với người lao động đến từ các quốc gia khác. Tiếp đến là so sánh lao động Việt Nam đang làm việc ở các nước châu Á theo các tiêu chí: giới tính, cơ cấu ngành nghề, số tiền bỏ ra trước chuyến đi, thu nhập, điều kiện sống, cuộc sống của người lao động sau khi về nước… Cuối cùng bài nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị chính sách đối với Chính phủ Việt Nam để tăng hiệu quả xuất khẩu lao động và bảo vệ người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài.
Thực trạng và xu hướng xuất khẩu lao động của Việt Nam (Situation and Trends of Vietnamese Labor Export) do tác giả Kannika Angsuthanasombat thực hiện năm 2006 đã đưa ra những nét chính và tình hình và xu hướng di cư lao động quốc tế của Việt Nam, tập trung vào lực lượng lao động đang làm việc ở nước ngoài, quy trình trước chuyến đi, các nước tiếp nhận lao động, loại hình công việc, chất lượng của lao động Việt Nam, các vấn đề tồn tại và các tác động về mặt xã hội của hoạt động di cư. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí khác có đề cập đến hoạt động hợp tác lao động quốc tế nói chung và hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia nói riêng. Các công trình này nhìn chung mới chỉ đề cập hoặc nghiên cứu một khía cạnh của quan hệ hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia mà chưa đi sâu vào phân tích, đánh giá một cách toàn diện mối quan hệ này, từ đó đưa ra giải pháp chiến lược, lâu dài và đồng bộ để nâng cao quan hệ hợp tác. Đồng thời hợp tác lao động giữa hai nước luôn có sự biến động, thay đổi do các yếu tố liên quan đến bối cảnh kinh tế, xã hội, chính sách ngoại giao của Nhà nước và từ người lao động.