Chương 1: Cơ sở của mối quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN trong 15 năm trở lại đây (2002 — 2017) Chương này là cơ sở của bài nghiên cứu. Dựa vào bối cảnh quốc tế, bối cảnh khu vực, cơ sở pháp lý và quy mô nền kinh tế cùng với tình hình thương mại song 10 phương giữa Trung Quốc và ASEAN dé khái quát mối quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc —- ASEAN - Chương 2: Thực trạng 15 năm quan hệ hop tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN (2002 - 2017) Đây là chương phân tích chính của bài nghiên cứu. Đầu tiên, nhìn vào hiện trạng và những số liệu mới nhất về hợp tác song phương giữa hai bên trên những lĩnh vực chính là: xuất khẩu, nhập khẩu, thương mại dịch vụ, đầu tư, dé tiến hành nghiên cứu. Sau đó sẽ nói về mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN.
Dựa vào quy mô hợp tác với Trung Quốc thì các nước thành viên trong ASEAN được chia thành ba nhóm chính. Nhóm đầu tiên là nhóm các nước phát triển trong khối ASEAN là Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Brunei. Đây là những nước có mối quan hệ thân thiết với Trung Quốc, hợp tác song phương giữa các nước này với Trung Quốc rất phát triển. Nhóm nước thứ hai gồm các nước CLMV trong khối ASEAN là Myanmar, Campuchia, Lào và Việt Nam.
Đây là nhóm nước vẫn đi theo hướng phát triển ngành nông nghiệp, hợp tác kinh tế, thương mại song phương giữa nhóm nước này với Trung Quốc còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn đang tích cực khai thác đầu tư vào thị trường các nhóm nước này. - Chương 3: Đánh giá quá trình thực hiện quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc — ASEAN và triển vọng Dựa vào những cơ sở nghiên cứu về tình hình hợp tác kinh tế của các chương trước dé làm nồi bật những thành tựu và khó khăn của việc hợp tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN. Thông qua các chiến lược và chính sách phát triển hợp tác của Trung Quốc va ASEAN dé xác định được hướng hợp tác kinh tế toàn diện giữa hai bên trong 15 năm trở lại đây.
Dựa vào mối quan hệ đó để xác định những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam trong thời kì này. 11 PHAN NOI DUNG Chuong 1: CO SO CUA MOI QUAN HE HOP TAC KINH TE TOAN DIEN GIUA TRUNG QUOC VA ASEAN TRONG 15 NAM TRO LAI DAY (2002 - 2017) 1. Bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực ASEAN 15 năm trở lại đây (2002 - 2017) 1. Bối cảnh thé giới Xu thé phát triển của kinh tế thế giới trong 15 năm qua cho thấy nền kinh tế thế giới đang biến chuyền với tốc độ nhanh chóng, khoảng cách giữa tăng trưởng và suy thoái của các chu kỳ kinh tế đang được thu ngắn lại.
Các quy luật kinh tế chịu sự tác động đan xen của nhiều yếu tố, nhiều chủ thể trở nên phức tạp và khó dự đoán hơn bao giờ hết. Quá trình truyền dẫn giữa các nền kinh tế ngày càng được rút ngắn. Giai đoạn phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 — 2009 kéo dài hơn dự đoán. Nhiều yếu tố rủi ro còn tiềm ân khiến nền kinh tế thế giới mặc dù tăng trưởng cao hơn mức kỳ vọng trong năm 2010 nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ dần phục hồi trở lại vào năm 2012.
Đến năm 2014, kinh tế thế giới có điểm sáng hơn khi những nỗ lực trong việc điều hành chính sách kinh tế của các quốc gia phan nao đạt được kết quả mong muốn, tuy nhiên cho đến năm 2016 tình hình kinh tế thế giới vẫn đi theo quỹ đạo tăng trưởng thấp do chịu nhiều áp lực từ nhiều vấn đề như sự biến động của giá dầu, sự sụt giảm thương mại và đầu tư toàn cầu, căng thăng khu vực. Cho đến năm 2017, tình hình hợp tác kinh tế trên toàn thế giới mới đồng loạt khởi sắc. Trong 15 năm từ năm 2002 đến năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới đã có nhiều biến động, giá trị tổng sản phẩm quốc gia (GDP) của toàn thé giới tính theo giá thực tế ước tính đạt 1,084,320 tỷ đô la Mỹ, gấp 3 lần tổng GDP giai đoạn 1990 — 2001.' ' Theo số liệu tác giả tử tông hợp từ trang web: http://www.org/external/datamapper/NGDPD @ WEO/OEMDC/ADVEC/WEOWORLD/USA 12 10 Emerging market and developing 4.6 economies I @® Advanced economies ï 2.6 ++ ADD AN ITEM TO THE CHART © RESET | | | III | | | | 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010 2015 2020 Hình 1: Tốc độ tăng trướng kinh tế thé giới (2002 — 2017) Nguồn:IMF http://www.org/external/datamapper/NGDPD @ WEO/OEMDC/ADVEC/ WEOWORLD/USA Nhìn từ biểu đồ 1 có thé thấy, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bat dau từ cuối năm 2008 kéo dài đến năm 2009 đã làm cho kinh tế toàn thế giới sụt giảm một cách nghiêm trọng, tuy nhiên bắt đầu từ năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn thế giới đã có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn khá chậm chạp. Sau năm 2009, cơ cau GDP của các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nỗi có sự thay đổi rõ rệt.
Những nên kinh tế mới nổi và đang phát triển có sự phục hồi ổn định. Tuy nhiên, nhóm các nền kinh tế phát triển vẫn chiếm hơn 70% tổng giá trị GDP của toàn thé giới. Tại Mỹ, để củng cô thêm sự phục hồi kinh tế, thị trường việc làm vẫn đang tiếp tục được cải thiện, mặc dù trong năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ tiếp tục giảm so với năm trước nhưng vẫn dưới 8%. Tại châu Âu, khi thị trường việc làm đã dần 6n định giúp cho nền kinh tế khu vực đồng Euro có dấu hiệu phục hồi.
Nhìn chung, thị trường lao động tại Châu Âu đang có nhiều thay đổi, nhưng tỷ lệ thất nghiệp của những người trong độ tuổi lao động van còn cao. Khoảng cách tỷ lệ thất nghiệp giữa các quốc gia cũng đang dần được nới rộng. Tại Nhật Bản, tông hiệu suất của thị trường việc làm đã có những thay đổi tích cực, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm hơn so với năm 2012. Những dữ liệu của của chính phủ Nhật Bản cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của 13 Nhật Bản trong năm 2012 là 4,4%, từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 4,1% - con số tốt nhất so với các nền kinh tế phát triển lớn khác.
Ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, tình hình việc làm nhìn chung khá ổn định, nhưng một số nước vẫn duy trì mức thất nghiệp tương đối cao. Mặc dù chiếm hơn 70% giá trị GDP của toàn thế giới nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế phát trién vẫn duy trì ở mức thấp và đang trong giai đoạn phục hồi. Cụ thé, sự phục hồi kinh tế của Mỹ và Nhật Bản tiếp tục được củng cố nhưng vẫn đang đi trên con đường tăng trưởng thấp; tăng trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Từ năm 2013 đến năm 2015, kinh tế thế giới vẫn tiếp tục đi trên con đường suy thoái kinh tế của những năm trước, và hầu hết các tô chức kinh tế quốc tế đã không còn nhiều kỳ vọng vào việc tăng trưởng kinh tế thế giới trong những năm này.
Theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ năm 2013 là 1,6%, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản là 2%, tương tự như năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế khu VỰC đồng Euro năm 2013 là -0.7 Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, thương mại quốc tế gắn liền với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế là quá trình liên kết giữa các quốc gia trên thế giới về lĩnh vực kinh tế. Nhờ có xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, thương mại quốc tế phát triển nhanh chóng. Từ năm 2002 đến nửa đầu năm 2008, thương mại quốc tế có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và khá đồng đều.
Đến năm 2009, thương mại quốc tế sụt giảm nhanh chóng đến mức âm do bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thé giới nhưng cũng đang có dấu hiệu phục hồi trở lại từ năm 2010. Trong năm 2014, thương mại quốc tế có dấu hiệu tiếp tục phục hồi nhẹ, xu hướng phục hồi được phân biệt rõ rệt. Ở các nền kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng của Mỹ và Anh tương đối mạnh, với con số khả quan lần lượt là 2,4% và 2,6%, còn nền kinh tế Nhật Bản dấu hiệu phục hồi vẫn còn rất ảm đạm với tốc độ tăng trưởng chi đạt 0,1%. Bên cạnh dấu hiệu phục hồi của các nền kinh tế phát triển, dưới tác động kép của chuyên dịch co câu kinh tê trong va ngoài nước, thương mại > PR RE, <2013 # 2014 FH RAREST SRS, < Phân tích triển vọng tình hình kinh tế thế giới từ năm 2013 đến năm 2014>,Tr.20 14 quốc tế của các nền kinh tế mới nổi dang dần chậm lai.
Theo thống kê của IMF, kinh tế thế giới tăng trưởng 3,8% trong năm 2014, tốc độ tăng trưởng không có dấu hiệu tăng vượt bậc so với năm 2013. Trong số đó, các nước phát triển tăng 1,8%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với năm ngoái, tốc độ tăng trưởng của các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển tăng 4,6%, giảm 0,4 điểm phần trăm. Tuy nhiên đến năm 2016, do sự biến động của thị trường tiền tệ, giá cả hàng hóa đi xuống, nhu cầu bên ngoài suy giảm, kỳ vọng của các nền kinh tế mới nồi vào chính sách nới lỏng tiền tế của các nền kinh tế phát triển đã không còn nhiều hi vọng cũng đã góp phần làm suy thoái kinh tế hơn nữa nên mức tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2016 chạm mức thấp nhất kề từ năm 2010 đến nay. in 2000 001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Hình 2: Giá trị nhập siêu hàng hóa và dich vụ của thế giới (2000 — 2016) (%) Nguồn: International Monetary Fund World Economic Outlook (2000 — 2014: IMF WEO Oct.
2016; 2015 — 2016: IMF WEO Jan. 2017) Theo số liệu thống kê của IMF, 6 thang đầu năm 2013 kim ngạch xuất khâu hàng hóa toàn cầu (FOB) đạt 9,07 nghìn tỷ đô la Mỹ, tăng 0,4% so với cùng kỳ và kim ngạch nhập khâu (CIF) đạt 9,06 nghìn ty đô la Mỹ, giảm -0,3% so với cùng ky năm trước.