Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP TÁC KHAI THÁC CHUNG TRÊN BIỂN 1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của khai thác chung Từ khi bắt đầu có nhận thức, loài người đã đánh giá rất cao vai trò của Biển và Đại dương và luôn thể hiện khát vọng chinh phục đại dương, tiến ra làm chủ biển. Tuy nhiên do sự phát triển của khoa học kỹ thuật chưa đủ mạnh để giúp loài người có thể mở rộng khai thác vùng tài nguyên ven biển. Ngày nay dưới sự trợ giúp đắc lực của các công cụ khoa học kỹ thuật hiện đại, xu hướng tiến ra biển và làm chủ biển đang là chiến lược hàng đầu của các quốc gia ven biển.
Cùng với tiến trình tiến ra biển của các quốc gia là sự ra đời của các học thuyết, các quy tắc, quy định về biển và đại dương. Có thể kể tới tác phẩm The Free Sea hay Mare Liberum (Biển tự do) của Hugo Grotius vào năm 1609 với 13 chương đề cập đến các vấn đề về ủng hộ tự do hàng hải, thương mại và đánh bắt cá trên biển. Trái ngược với Hugo Grotius, nhà luật học người Anh John Selden lại đưa ra tác phẩm Mare clausum (Biển kín) vào năm 1653 trong đó ông cố gắng chứng minh rằng biển cả trong thực tế hoàn toàn có khả năng chiếm đoạt như lãnh thổ trong đất liền khi các quốc gia cố gắng mở rộng vùng biển của mình như trên đất liền. Đầu thế kỷ XX, các quốc gia đẩy mạnh tiến trình mở rộng lãnh thổ ra biển nhằm đơn phương tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên và kiểm soát hàng hải ở vùng biển ven bờ.
Năm 1930, LHQ đã tổ chức một hội nghị pháp điển hóa Luật quốc tế tại The Hague (Hà Lan), trong đó đưa vấn đề trên ra thảo luận; tuy nhiên đây là vấn đề còn quá mới mẻ với nhiều quốc gia nên Hội nghị chưa thông qua được bất kỳ điều ước quốc tế nào. Năm 1958 LHQ đã tổ chức Hội nghị về Luật Biển đầu tiên (UNCLOS I) ở Geneva, Thụy Sĩ. Hội nghị này đạt được bốn hiệp định ký kết năm 1958: Công ước về Lãnh Hải và Vùng tiếp giáp lãnh hải, có hiệu lực vào ngày 10/09/1964. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công ước về Thềm lục địa, có hiệu lực vào ngày 10/06/1964.
Công ước về biển cả, có hiệu lực vào ngày 30/09/1962. Công ước về Nghề cá và bảo tồn tài nguyên sống ở hải phận quốc tế, có hiệu lực vào ngày 20/03/1966. Hội nghị lần này được cho là khá thành công khi các nước đã bắt đầu đạt được các thỏa thuận ban đầu liên quan biên giới lãnh thổ trên biển, nhưng nó vẫn để ngỏ vấn đề quan trọng là bề rộng tối đa của vùng lãnh hải. Cùng với quá trình pháp điển hóa Luật biển quốc tế, KTC được các quốc gia áp dụng trong thực tiễn.
KTC lần đầu tiên được ghi nhận là vào những năm 30 của thế kỷ XX, mặc dù chỉ được đánh giá ở mức độ ý tưởng. Ghi nhận này được rút ra từ các nghiên cứu về các án lệ KTC dầu mỏ của Hoa Kỳ. Các mô hình KTC đầu tiên được xác lập tại Thỏa thuận Ba-ranh và Ả-Rập Xê-út ngày 22/02/1958 và Thỏa thuận Cô-oét - Ả-Rập Xê-út ngày 07/7/1965. Thỏa thuận Ba-ranh và Ả-Rập Xê-út ngày 22/02/1958 có liên quan đến KTC nguồn tài nguyên dầu mỏ tại khu vực vùng biển đã có đường ranh giới đã được phân định.
Trong khai thác dầu mỏ có rất nhiều trường hợp các quốc gia vẫn phải tiến hành khai thác chung khi mà đường ranh giới quốc gia đã được phân định nhưng mỏ dầu lại nằm vắt qua đường biên giới hai quốc gia này. Việc phân chia dầu mỏ là rất khó khăn và việc một quốc gia đơn phương khai thác nguồn tài nguyên sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác cũng như cạn kiệt nguồn tài nguyên của quốc gia liền kề. Vì vậy các quốc gia vẫn phải tiến hành KTC để đảm bảo tận thu được nguồn tài nguyên của vùng biển này. Do đó bằng thỏa thuận năm 1958, Ba- ranh và Ả-Rập Xê-út đã thống nhất được mọt số vấn đề sau: - Vạch ra đường ranh giới TLĐ trùng với ranh giới dầu mỏ và nằm về phía TLĐ Ả-rập Xê-út.
- Xây dựng quan hệ về KTC đối với mỏ dầu bằng việc Ba-ranh trao quyền quản lý, khai thác cho Ả-Rập Xê-út và yêu cầu chia đều lợi nhuận từ hoạt động khai thác dầu mỏ trong vùng biển trên. Một mô hình KTC khác được các quốc gia sử dụng đó là trao quyền quản lý 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và khai thác chung một bên thứ ba. Điển hình cho mô hình này là Thỏa thuận Cô- oét - Ả-rập Xê-út ngày 07/7/1965 với các nội dung chính: - Phân định TLĐ giữa hai quốc gia. - Duy trì và phát triển quan hệ KTC bằng hình thức thỏa thuận đặc nhượng cho các công ty dầu khí đã ký trước đó.
Vấn đề KTC đã được nhiều quốc gia nghiên cứu và đề cao hơn sau khi xảy ra tranh chấp TLĐ Biển Bắc giữa Đan Mạch, Hà Lan và CHLB Đức năm 1969. Và cũng từ đây các phán quyết của Tòa án công lý quốc tế (IJC) trở thành án lệ làm căn cứ pháp lý vững chắc cho các thỏa thuận KTC trên biển. Bước ngoặt lớn của vấn đề KTC trong Luật Biển quốc tế là Thỏa thuận KTC giữa Nhật Bản và Hàn Quốc ngày 30/01/1974. Thỏa thuận này là kết quả của những cuộc đàm phán không thành công trong việc giải quyết tranh chấp TLĐ giữa hai nước trước đó.
Thỏa thuận đánh dấu việc lần đầu tiên trên thế giới áp dụng ý tưởng KTC dầu khí ngoài khơi tại nơi đường biên giới trên biển chưa được phân định. Trước đó 01 ngày, Pháp và Tây Ban Nha đã ký kết thỏa thuận thiếp lập một khu vực khai thác chung nằm vắt qua đường biên giới đã được xác định. Trong khu vực Châu Á, cụ thể là Vịnh Thái Lan, Malaysia và Thái Lan đã ký thỏa thuận ghi nhớ ngày 21/2/1979 (MOU 1979) về việc thành lập cơ quan quyền lực chung chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên không sinh vật đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tại khu vực vùng chồng lấn TLĐ theo yêu sách của hai quốc gia. Nhưng mãi đến năm 1994, hai bên mới thống nhất được cơ cấu của cơ quan quyền lực chung và ký kết hợp đồng phân chia sản phẩm với các nhà thầu.
Và phải chờ đến Hội nghị luật biển lần thứ ba (UNCLOS III) sau năm năm trù bị (1967-1973), với các cuộc thảo luận kéo dài trong chín năm, chứng kiến sự tham gia của 160 quốc gia, và kết thúc vào năm 1982 với kết quả sự thông qua Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, mà bây giờ thường được gọi đơn giản là “UNCLOS”. UNCLOS 1982 đã tạo ra bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển của Luật Biển quốc tế. So với các văn kiện pháp lý quốc tế được ký kết trước đó, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com UNCLOS năm 1982 tỏ ra ưu việt hơn nhiều với nhiều quy định mới. UNCLOS năm 1982 đã hệ thống hoá và pháp điển hoá toàn bộ các quy phạm và nguyên tắc của luật biển quốc tế vào trong một văn kiện chung với 320 điều và 9 phụ lục.
Bên cạnh đó, UNCLOS năm 1982 điều chỉnh một cách toàn diện và hệ thống tất cả các vùng biển của các quốc gia ven biển cũng như các vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế. Theo quy định của Công ước, mỗi quốc gia ven biển đều có quyền xác định: (i) nội thủy; (ii) lãnh hải (rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở); (iii) vùng tiếp giáp lãnh hải (rộng không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở); (iv) vùng đặc quyền kinh tế (rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở) và (vi) thềm lục địa. Như vậy, các vùng biển của quốc gia ven biển được mở rộng đáng kể, và điều đó làm xuất hiện các vùng biển chồng lấn giữa những nước đối diện hoặc tiếp liền. Cho đến nay, còn khoảng 400 đường ranh giới trên biển cần được phân định.
Những tranh chấp này vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn khi các quốc gia đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên các vùng biển. Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp, hoạch định rõ ràng các vùng biển đã, đang và sẽ tiếp tục chiếm giữ vị trí quan trọng trong quan hệ chính trị, pháp lý quốc tế hiện đại. “Phân định biển được hiểu là quá trình hoạch định đường ranh giới phân chia các vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan”. Như vậy phân định biển ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền và lợi ích lâu dài của các quốc gia nên đây là vấn đề không dễ dàng được các quốc gia nhượng bộ.
Quá trình đàm phán để đi đến thỏa thuận cuối cùng thường kéo dài và thủ tục phức tạp, có nhiều trường hợp phải nhờ đến sự phân xử của các cơ quan Tài phán quốc tế. Việc các quốc gia đơn phương khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng biển tranh chấp là quá mạo hiểm và gây căng thẳng cho mối quan hệ giữa các bên. Vì vậy một phương án được đưa ra để các quốc gia vẫn khai thác được nguồn tài nguyên nơi chồng lấn trong khi chờ đợi một giải pháp phân định đường biên giới cuối cùng đó là “khai thác chung”. Đây là một phương án tối ưu nhất cho các quốc gia có vùng biển chồng lấn trong việc khai thác tài nguyên nhưng vẫn đảm bảo vấn đề chủ quyền.
Theo UNCLOS 1982 thì các quốc gia có vùng biển chồng lấn, trong khi chờ đợi việc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thỏa thuận để hoạch định ranh giới vùng ĐQKT và TLĐ có thể đi đến các: “dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn” trên tinh thần hiểu biết và hợp tác không làm phương hại hay cản trở việc đàm phán để đi đến các thỏa thuận dứt khoát. Thực tế cho thấy KTC đã tạo ra một hành lang dung hòa lợi ích giữa các quốc gia có vùng biển đối diện hoặc liền kề nhau trong việc tạm thời gác tranh chấp để cùng nhau khai thác tài nguyên thiên nhiên khi đang chờ đợi những thỏa thuận dứt khoát về phân định biển. Như vậy, khi các quốc gia chưa đi đến thỏa thuận cuối cùng, KTC có vẻ là giải pháp hợp lý vừa đảm bảo khai thác được nguồn tài nguyên đang tranh chấp vừa đảm bảo không làm ảnh hưởng đến các quan điểm về chủ quyền cũng như yêu sách về quyền tài phán. Khái niệm khai thác chung 1.