Chương 1: Một số lý thuyết về hợp đồng tương lai (future) và hợp đồng quyền chọn (option) Chương 2: Hợp đồng tương lai và quyền chọn tại Việt Nam Chương 3: Đề xuất phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn tại Việt Nam Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Phan Trần Trung Dũng, khoa Tài Chính Ngân Hàng, cùng các thầy cô giáo trường đại học Ngoại Thương Hà Nội đã cho em những kinh nghiệm bổ ích trong phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như đã dành thời gian quý báu chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp. Trong quá trình nghiên cứu, do còn nhiều hạn chế về trình độ nghiên cứu, thông tin, tài liệu nên bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc. Vũ Thị Thược Vũ Thị Thược – Lớp A2-K42-Khoa Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam CHƢƠNG I MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ HỢP ĐỒNG TƢƠNG LAI (FUTURE) VÀ HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION) I.
Hợp đồng tƣơng lai và hợp đồng quyền chọn. Sự ra đời của các công cụ phái sinh. Các nghiệp vụ tài chính phái sinh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển ngày càng sâu, rộng và đa dạng của thị trường tài chính. Sự biến động khó lường của giá cả hàng hoá, lãi suất, tỷ giá trên thị trường là những nguyên nhân gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư trong các phi vụ mua, bán.
Để hạn chế thấp nhất những rủi ro thua lỗ có thể xẩy ra, các nghiệp vụ tài chính phái sinh đã được hình thành, đó thực chất là những hợp đồng tài chính mà giá trị cuả nó phụ thuộc vào một hợp đồng mua bán cơ sở (hay còn gọi là chính phẩm). Từ sự khởi đầu đơn giản với hợp đồng tương lai (Futures) và hợp đồng kỳ hạn (Forwards), theo một số tài liệu, các hợp đồng tương lai được ký từ sự thỏa thuận tại một hội chợ thời Trung cổ ở Flanders và quận Champagne giữa thế kỷ thứ 12 ở Châu Âu. Lúc đầu, đối tượng của các future trên thị trường là các mặt hàng tiêu dùng như đồ gốm, lúa mì hay cà phê. Các nhà đầu tư mua và bán các hợp đồng tương lai với mục đích nhằm giảm bớt sự lo ngại xảy ra những biến cố khiến giá bị đẩy lên cao hay xuống thấp trong những tháng sau đó.
Hợp đồng tương lai thường được các nhà đầu tư xem là một phương thức tốt để hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Đến thập niên 80, các hợp đồng tương lai bắt đầu nở rộ và phổ biến trong các giao dịch thương mại và bao gồm nhiều loại khác nhau, như hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán (index futures), hợp đồng tương lai lãi suất (interest futures), hợp đồng tương lai Vũ Thị Thược – Lớp A2-K42-Khoa Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam ngoại hối (currency futures), hợp đồng tương lai nông sản (agricultural futures), hợp đồng tương lai kim loại và khoáng sản (metal and mineral futures). Bên cạnh hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn là sự ra đời của những công cụ hiệu quả như quyền chọn (options) và giao dịch hoán đổi (swaps). Trên thế giới, người ta kinh doanh options hàng trăm năm nay.
Đặc biệt, các hợp đồng quyền chọn đã phát triển rất mạnh kể từ khi Sở Giao dịch Option Chicago (CBOE) ở Mỹ thành lập tháng 4/1973. Từ đó thị trường này phát triển tăng vọt và ngày nay được thực hiện trên khắp thị trường tài chính thế giới. Các hợp đồng quyền chọn thường được giao dịch trên thị trường chính thức hoặc thị trường phi chính thức (OTC). Hiện nay, chủ yếu các hợp đồng quyền chọn được mua bán rộng rãi tại văn phòng thị trường chứng khoán (Chicago board Option Exchange-CBOE, Philadelphia Exchange- PHLX, The American Stock Exchange-AMEX, The Pacific Stock Exchange- PSE, The New York Stock Exchange-NYSE.Hợp đồng tương lai: Hợp đồng tương lai (Futures) là việc thoả thuận giữa các bên về những nghĩa vụ mua bán phải thực hiện theo mức giá đã xác định cho tương lai mà không phụ thuộc vào giá thị trường tại thời điểm đó.
Ví dụ: Vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng future với công ty B mua 100 tấn gạo với giá 2 USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như vậy vào thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2 USD/kg và công ty A phải mua 100 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2003 là bao nhiêu chăng nữa. Vũ Thị Thược – Lớp A2-K42-Khoa Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam Lúc đầu, đối tượng của các future trên thị trường là các mặt hàng đơn giản như lúa mì hay cà phê. Các nhà đầu tư mua và bán các hợp đồng future với mục đích nhằm giảm bớt sự lo ngại xảy ra những biến cố khiến giá bị đẩy lên cao hay xuống thấp trong những tháng sau đó.
Ví dụ: Công ty sản xuất sô-cô-la Hershay đã bao tiêu nguồn cung cấp ca-cao trên thị trường với các hợp đồng futures để giới hạn rủi ro nếu giá ca-cao tăng lên. Future thường được các nhà đầu tư xem là một phương thức tốt để hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Đến thập niên 80, các hợp đồng futures bắt đầu nở rộ và phố biến trong các giao dịch thương mại và bao gồm nhiều loại khác nhau, như hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán (index futures), hợp đồng tương lai lãi suất (interest futures), hợp đồng tương lai ngoại hối (currency futures), hợp đồng tương lai nông sản (agricultural futures), hợp đồng tương lai kim loại và khoáng sản (metal and mineral futures).Hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng quyền chọn là thỏa thuận giữa hai bên, trong đó bên mua quyền chọn phải trả khoản tiền gọi là phí quyền chọn (option premium) để có quyền được mua hay bán nhưng không bắt buộc một số lượng nhất định hàng hoá cơ sở (hàng hoá cơ sở có thể là hàng hoá như dầu, lương thực, chứng khoán, chỉ số chứng khoán, ngoại tệ,vv.) theo giá thực hiện (strike price - exercise) ghi trong hợp đồng quyền chọn vào một ngày nhất định trong tương lai - expiration date (nếu áp dụng theo kiểu Châu âu - European style) hoặc được thực hiện trước ngày đáo hạn (nếu áp dụng theo kiểu Mỹ - American style). Bên bán quyền chọn nhận được khoản tiền phí bán quyền chọn nên có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng theo các điều kiện đã thoả thuận khi người mua quyền muốn thực hiện quyền đó.
Vũ Thị Thược – Lớp A2-K42-Khoa Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam Khi quyền chọn được trao cho người mua quyền có quyền mua một tài sản từ người bán quyền thì gọi là quyền chọn mua (call option). Khi người mua quyền có quyền bán một tài sản xác định cho người bán quyền thì gọi là quyền chọn bán (put option). Người mua bất cứ quyền dạng nào cũng được coi là ở vị thế người nắm quyền (the option holder), còn người bán ở vị thế người bán quyền (the option writer). Khoản tiền tối đa mà một người mua quyền có thể bị mất chính là giá quyền chọn (option premium), còn lợi nhuận có thể thu được là tiềm năng đáng kể.
Trong khi đó, lợi nhuận tối đa mà người bán quyền có thể thu được là giá quyền chọn, còn rủi ro có thể phải chịu là đáng kể. Options có 2 loại: Quyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option). Quyền chọn mua (call option). Trong giao dịch quyền chọn mua có hai bên tham gia: - Người mua quyền chọn mua (buyer of call option_long call).
- Người bán quyền chọn mua (seller of call option_short call). Người mua call option sẽ trả cho người bán call option một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (option premium) và người mua call option sẽ có quyền được mua nhưng không bắt buộc phải mua một lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng hoá…) theo một mức giá đã được thoả thuận trước (strike price-exercise price) vào một ngày xác định trong tương lai-expiration date (theo kiểu Châu Âu) hoặc được thực hiện trước ngày đó (theo kiểu Mỹ). Người bán call option nhận được tiền từ người mua call option nên họ có trách nhiệm phải bán một lượng tài sản nhất định (chứng khoán chẳng hạn) theo một giá cả đã được thoả thuận trước vào một Vũ Thị Thược – Lớp A2-K42-Khoa Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam ngày xác định trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó, khi người mua call option muốn thực hiện cái quyền được mua. Ví dụ: giá cổ phần ABC là 80.000 đồng, sau khi phân tích, ta dự báo rằng giá cổ phần ABC sẽ tăng lên trong thời gian tới.
Vậy nếu ta muốn đầu tư 1.000 cổ phần ABC ta phải chi là 80 triệu đồng (80. Nhưng nếu chẳng may, sau một thời gian, cổ phần ABC giảm xuống chỉ còn 60.000đ/cp thì ta sẽ mất trắng 40 triệu VND. Trong trường hợp này, để an toàn, hạn chế rủi ro và vẫn thực hiện theo dự báo, ta nên đầu tư vào options, cụ thể là ta đi mua call option cổ phần ABC, giá thoả thuận trước (strike price) là 80.000đ/cp, thời gian là 2 tháng (25.000 cp với mức phí (options premium) là 2. Trong thời gian này, nếu giá cổ phần ABC tăng trên 80.000 đ/cp theo đúng dự báo, ta-người mua call option có thể thực hiện quyền được mua chứng khoán của mình với giá thoả thuận trước là 80.000 đ/cp và đem ra thị trường bán với giá 100.000 đ/cp chẳng hạn, ta sẽ có lợi nhuận là 20.000 cp], trừ đi chi phí 2.000đ tiền mua quyền chọn, ta sẽ có lợi nhuận ròng 18 triệu đồng.
Tuy nhiên, nếu thời hạn còn ta có thể bán lại call option với giá cao hơn và lợi nhuận của ta cũng sẽ tăng lên. Nhưng nếu giá cổ phần ABC không tăng lên theo dự đoán của ta, nó giảm liên tục, cho tới ngày đến hạn trên hợp đồng giá vẫn giảm thì ta sẽ không thực hiện quyền chọn mua của mình và ta chỉ lỗ tiền mua cái call option mà thôi, tức là mất 2.