Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP 1. Lƣợc sử ra đời và phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp 1. Lịch sử ra đời và phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp trên thế giới Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đánh dấu thời kỳ đỉnh cao trong quá trình tập trung tư bản của nền kinh tế thế giới cùng sự phát triển với tốc độ mà ngày nay chúng ta gọi là "nóng" của các cường quốc mới nổi như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản.
Đây là thời kỳ được coi là chuyển giao từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền với sự hình thành của các tập đoàn công nghiệp khổng lồ. Chính sự chuyển giao này đã dẫn đến sự phát triển của hoạt động M&A, mà thông qua đó các công ty có thể thực hiện việc thâu tóm quyền lực quản trị của mình tại doanh nghiệp cũng như thâu tóm thị trường. Bước sang thế kỷ XX nền kinh tế thế giới đã chứng kiến lịch sử phát triển thăng trầm của hoạt động M&A. Đặc biệt, nền kinh tế Hoa Kỳ đã chứng kiến 5 chu kỳ đỉnh cao (hay còn gọi là làn sóng chuyển nhượng) của hoạt động sáp nhập công ty.
Làn sóng đầu tiên về M&A trên thế giới được nhận biết một cách rõ nét. Cuộc đại sáp nhập này (1895 - 1905) bắt nguồn từ tình trạng khủng hoảng thừa năm 1893 khi lượng cầu suy yếu kéo theo giá tiêu dùng giảm mạnh. Đứng trước nguy cơ này, hàng loạt công ty Mỹ đã thực hiện sáp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhập ngang nhằm tạo ra những dây chuyền sản xuất khổng lồ, điển hình là vụ PepsiCo. mua 80% cổ phần nước uống hoa quả Sandora LLC Ucraina.
Tiếp theo những năm sau đó, nền kinh tế Hoa Kỳ còn tiếp tục chứng kiến bốn làn sóng sáp nhập nữa vào những năm 1920; nửa sau thập niên 60; nửa đầu thập niên 80; và nửa sau thập niên 90. Các chu kỳ sáp nhập đều rơi vào những giai đoạn kinh tế phát triển thịnh vượng và hoạt động kinh doanh, nhất là thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh. Làn sóng chuyển nhượng thứ hai đã diễn ra vào cuối những năm 1910 và liên tục đến những năm 1920. Những cuộc sáp nhập vào cuối những năm 1920 hầu hết được diễn ra giữa các công ty nhỏ với nhau để thoát khỏi sự độc quyền được tạo nên trong làn sóng chuyển nhượng trước.
Sự thiếu hụt nguồn vốn cần thiết để cung cấp cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh, hiệu lực thi hành của đạo luật chống độc quyền; những phán quyết của Tòa án tối cao trong vụ Northern Securities Co., vào năm 1904 cấm tất cả những vụ sáp nhập giữa hai đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên cùng một thị trường (sáp nhập ngang) cùng với sự suy yếu của thị trường chứng khoán và sự giảm sút của nền kinh tế vào năm 1929 đã khởi đầu cho sự sụp đổ của làn sóng sáp nhập thứ hai. Sự suy thoái của nền kinh tế trên khắp thế giới vào những năm 1930 và tiếp theo là sự bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã làm gián đoạn sự phát triển của một làn sóng chuyển nhượng mới trong vài thập niên. Làn sóng M&A thứ ba chỉ diễn ra trong những năm 1950 và kéo dài gần 20 năm. Điểm phát triển cao nhất của làn sóng này vào năm 1968 khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ đẩy nền kinh tế thế giới vào sự suy thoái.
Làn sóng chuyển nhượng thứ tư bắt đầu vào năm 1981 khi thị trường chứng khoán được khôi phục từ sự suy thoái kinh tế trước đó. Sự bắt đầu của làn sóng chuyển nhượng này diễn ra cùng thời điểm với sự thay đổi trong chính sách chống độc quyền, sự bãi bỏ quy định về độc quyền trong dịch vụ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài chính, sự thiết lập những công cụ tài chính và thị trường mới (thị trường trái phiếu), cũng như sự phát triển công nghệ trong ngành công nghiệp điện tử. Đặc điểm của sự kiểm soát liên kết cho thị trường vào thời điểm này được thể hiện bởi một số lượng lớn các giao dịch mang tính chất loại trừ, sự chuyển nhượng giữa các đối thủ cạnh tranh và những giao dịch cá nhân. Cũng như những làn sóng chuyển nhượng trước đó, làn sóng thứ tư này một lần nữa lại bị suy yếu dần sau sự tụt dốc của thị trường chứng khoán vào năm 1987.
Làn sóng chuyển nhượng lần thứ năm bắt đầu vào năm 1993. Nó phát triển trong thời điểm nền kinh tế toàn cầu đang trên đà tăng trưởng, sự cải tiến kỹ thuật, sự bãi bỏ quy định và việc tư nhân hóa cũng như sự bùng nổ của thị trường tài chính và kinh tế. Điểm nổi bật đầu tiên của làn sóng chuyển nhượng này đó là sự lan truyền của nó và sự xuất hiện một số lượng lớn các giao dịch mua bán sáp nhập có yếu tố nước ngoài. Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp tục chứng kiến một làn sóng M&A mới, dưới những hình thức đa dạng và quy mô lớn chưa từng có.
Đợt sóng này không chỉ bó hẹp trong phạm vi các nền kinh tế phát triển mà còn lan tỏa sang các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Đông. Sự bùng phát của hoạt động chuyển nhượng cũng trùng khớp với sự khôi phục dần của thị trường tài chính và nền kinh tế sau khi giảm sút được bắt đầu vào năm 2000. Các giao dịch mua bán hiện tại dường như chú tâm đến các thỏa thuận mang tính thiện chí hơn là thông qua việc đấu thầu có tính cạnh tranh, vì số lượng các giao dịch thông qua đấu thầu giữa các đối thủ cạnh tranh chỉ ở mức độ khiêm tốn [26]. Qua đây có thể nhận thấy rằng, sự phát triển của hoạt động M&A trong nền kinh tế Hoa Kỳ được xem như một mô hình kiểu mẫu.
Từ sự phát triển thăng trầm của nó mà các nước có nền kinh tế mới nổi hoặc đang phát triển sau này xem đây như một nguyên lý đế định hướng cho hoạt động M&A tại từng quốc gia. Và cho dù có thực hiện theo phương thức nào đi nữa, các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làn sóng chuyển nhượng đều phát triển theo quá trình tỷ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường chứng khoán. Nó chịu sự tác động bởi những thay đổi trong các quy định pháp luật của bộ máy chính quyền cũng như thường bị cuốn theo sự thay đổi mang tính đột phá trong kỹ thuật và công nghệ. Tuy nhiên, hiệu quả mà các hoạt động chuyển nhượng này mang lại đó là khả năng đem lại cơ hội phục hồi nền kinh tế thường rất cao.
Sự ra đời và phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam Nếu như trước đây cụm từ "M&A" còn khá mới mẻ so với các doanh nghiệp Việt Nam thì hiện nay nó đang dần trở thành một trào lưu khá quen thuộc và có thể nói nó đã trở thành một phần không thể thiếu trong điều kiện nền kinh tế thị trường và ngày càng hội nhập ở nước ta hiện nay. Ở Việt Nam, hoạt động mua bán doanh nghiệp đã được quan tâm kể từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999. Trước đó, phần lớn các giao dịch mua bán doanh nghiệp diễn ra trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996. Tuy nhiên, kể từ sau thời điểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì mua bán doanh nghiệp mới thực sự phát triển một cách mạnh mẽ.
Năm 2007 đã chứng kiến sự tăng vọt của số vụ M&A, 113 vụ, tổng giá trị giao dịch 1. 6 tháng đầu năm 2007 đã có 46 vụ (tổng giá trị 626 triệu USD) so với 32 vụ (245 triệu USD) của cả năm 2006 và 18 vụ (61 triệu USD) của cả năm 2005 (Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương). Một số vụ mua bán doanh nghiệp điển hình là: Công ty Cổ phần Doanh nghiệp trẻ Đồng Nai mua lại Cheerfield Rama, Dai-ichi mua lại Bảo Minh CMG, Kinh Đô mua lại Kem Wall’s, Anco mua lại nhà máy sữa của Nestlé. Trong năm 2008, các hoạt động này cũng diễn ra khá mạnh mẽ: Indochina Capital Vietnam Holding mua 20% cổ phần của Công ty Thời trang Việt - Ninomaxx, Tập đoàn Goldman Sachs đầu tư 30% cổ phần của Công ty 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cổ phần Diana, hay việc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho Eximbank bán 25% vốn điều lệ cho 4 nhà đầu tư nước ngoài là: Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC),.
Cơ hội thu hút vốn đầy tiềm năng từ thị trường chứng khoán cùng sự kiện Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2005 đã tạo động lực thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và nỗ lực mở rộng kinh doanh của khu vực tư nhân, tạo nguồn cung và cầu "hàng hóa - công ty" dồi dào cho các hoạt động tài chính, đầu tư. Trên một sân chơi phổ biến hơn và khung khổ pháp lý đã trở nên thuận lợi hơn, các doanh nghiệp Việt Nam ở tất cả các thành phần kinh tế nhanh chóng làm quen và sử dụng M&A như một công cụ chiến lược để phát triển hay cơ cấu lại doanh nghiệp của mình, đối phó với sức nóng cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường. Với những thương vụ mua bán "đình đám" đã nêu trên, có thể thấy rằng các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài đã thấy được những cơ hội lớn tại thị trường Việt Nam. Bởi lẽ, thông qua việc mua lại doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể tiếp cận thị trường một cách nhanh nhất dựa trên những giá trị sẵn có của công ty bị mua, bị sáp nhập tại Việt Nam.
Đồng thời, việc đầu tư bằng hình thức này sẽ làm giá tăng giá trị của doanh nghiệp mới ở Việt Nam bằng thương hiệu, uy tín, chất lượng, hiệu quả, công nghệ, kỹ năng, kinh nghiệm quản trị,… Thông qua quá trình phát triển hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam đã nêu trên, có thể thấy rằng nguyên nhân cơ bản cho sự phát triển thị trường mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam chính là sự thay đổi trong chính sách pháp luật để phù hợp hơn với thông lệ quốc tế cũng như với cam kết gia nhập WTO.