lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề án được chia thành 03 chương sau: Chƣơng 1: Khái luận về hợp đồng bảo hiểm tài sản Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản Chƣơng 3: Kiến nghị về chế định hợp đồng bảo hiểm tài sản của Việt Nam 5 CHƢƠNG 1. KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản 1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm tài sản Bảo hiểm đã gắn liền với xã hội công nghiệp và ngày càng phát triển và chiếm vị trí thay thế cho nhiều giải pháp liên quan tới các rủi ro về tài chính.
Bảo hiểm xét dưới góc độ pháp lý là một chủng loại hợp đồng có tính chất tài chính được giao kết giữa người mua bảo hiểm và công ty hay doanh nghiệp bảo hiểm (người bảo hiểm), mà theo đó, người mua bảo hiểm đóng tiền (mà thường được gọi là phí bảo hiểm) cho người bảo hiểm để đổi lấy sự bảo vệ, sự bồi thường hoặc sự trợ cấp khi xảy ra các sự kiện nhất định không mong muốn (ví dụ như như bị tai nạn, ốm đau, bệnh tật, tổn thất về tài sản hoặc sức khỏe, tính mạng). Bảo hiểm tự bản thân nó không ngăn ngừa được rủi ro nhưng cung cấp một phương thức bảo đảm về tài chính, tức là chuyển rủi ro về tài chính sang cho công ty bảo hiểm1. Vì vậy hợp đồng bảo hiểm luôn luôn là một chủng loại hợp đồng quan trọng, có ý nghĩa lớn trong đời sống hàng ngày và cả trong kinh doanh hay hoạt động nghề nghiệp. Khi rủi ro xảy ra, bảo hiểm giúp người mua bảo hiểm giảm thiểu những tổn thất về tài chính cũng như áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn cho bản thân người mua bảo hiểm, người thân hoặc tài sản của người mua bảo hiểm trong các trường hợp khẩn cấp.
Có nhiều loại bảo hiểm thường thấy như bảo hiểm tùy theo nhu cầu và mục đích sử dụng khác nhau của người mua và theo kiểu phân loại. Dựa vào đối tượng được BH, có chia BH thành ba loại BH- đó là BHTS, BHCN và BHTNDS2. Theo Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 1 David Bland, Bảo hiểm: Nguyên tắc và Thực hành, Nxb. Tài chính, Hà Nội, 1999, tr.
2 Bảo Việt, Phân loại các loại hình bảo hiểm, [https://www.vn/insurance/Kien-thuc-Bao- hiem/Kien-thuc-chung-ve-bao-hiem-phi-nhan-tho/Phan-loai-cac-loai-hinh-bao- hiem/201/3470/MediaCenterDetail/], 17/6/2024. 6 01/07/2023 của Chính phủ thì bảo hiểm tài sản thuộc bảo hiểm phi nhân thọ căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm của các công ty bảo hiểm. Bảo hiểm tài sản là một loại hình bảo hiểm cổ điển nhất tồn tại cho tới nay và coi hợp đồng bảo hiểm là một căn cứ phát sinh quan hệ bảo hiểm. Vậy, hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng được giao kết giữa người mua bảo hiểm và công ty bảo hiểm mà theo đó, người mua bảo hiểm đóng một khoản phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm để trong trường hợp xảy ra sự kiện theo thỏa thuận hoặc theo pháp luật gây thiệt hại đến tài sản là đối tượng bảo hiểm, thì công ty bảo hiểm phải trả một khoản bồi thường thích hợp.
Định nghĩa này đề cập tới các thành tố chính của hợp đồng bảo hiểm tài sản bao gồm: + Đối tƣợng bảo hiểm được hiểu là một hoặc nhiều tài sản cụ thể mà người mua bảo hiểm muốn được bảo hiểm, có nghĩa là các bên thiết lập quan hệ bảo hiểm liên quan tới đối tượng bảo hiểm đó. + Phí bảo hiểm được hiểu là một khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho công ty bảo hiểm để đổi lấy việc bồi thường bảo hiểm. + Sự kiện bảo hiểm được hiểu là những sự kiện rủi ro do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định mà làm phát sinh ra trách nhiệm bồi thường bảo hiểm khi sự kiện này xảy ra. + Bồi thƣờng được hiểu là việc thực hiện nghĩa vụ của công ty bảo hiểm như đã cam kết về việc chi trả một khoản tiền cho bên được bảo hiểm khi tài sản là đối của bảo hiểm bị thiệt hại do xảy ra các sự kiện bảo hiểm.
Chức năng chủ yếu của BHTS là các chức năng như bảo vệ và đảm bảo sự ổn định về mặt tài chính cho chủ sở hữu TS khi người này gặp phải các rủi ro và sự cố liên quan tới TS. Vì vậy BHTS có các nhiệm vụ cụ thể sau đây: 7 + Bảo vệ TS chống lại các rủi ro, tức là chi trả cho chủ sở hữu TS khi TS đó bị các sự kiện như hỏa hoạn, thảm họa tự nhiên, bị trộm cắp, bị hư hỏng hoặc bị các sự kiện khác dẫn đến tổn thất. + Bồi thường và tái hữu TS tức là trong trường hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra, bên bảo hiểm trả cho bên được bảo hiểm một khoản bồi thường nhằm, sửa chữa, phục hồi hoặc tái hữu TS bị mất mát, thiếu hụt hoặc hư hỏng. + Giảm bớt gánh nặng về tài chính tức là BH nói chung và BHTS nói riêng giúp giảm bớt gánh nặng về tài chính mà chủ sở hữu TS bị tổn thất hoặc phải chi tiêu khi sự kiện BH xảy ra.
+ Bảo vệ về mặt pháp lý đối với chủ sở hữu TS tức là BHTS bảo vệ chủ sở hữu tránh khỏi các yêu cầu đòi bồi thường hoặc các tranh chấp pháp lý liên quan đến rủi ro về TS. + Hỗ trợ khôi phục nhanh chóng TS bị tổn thất tức là BHTS cung cấp ngay nguồn tài chính để bù đắp mất mát, thiếu hụt hay hư hỏng TS sau khi sự kiện BH xảy ra. + Phòng ngừa và đánh giá rủi ro đối với TS được BH tức là bên BH thông thường đánh giá và phòng ngừa các rủi ro nhằm giúp chủ sở hữu TS hiểu và phòng ngừa các nguy cơ tổn thất về TS có thể xảy ra. Nói một cách tóm tắt nhất, chức năng và nhiệm vụ cơ bản của BHTS là bảo vệ TS và đảm bảo ổn định tài chính bằng cách bồi thường cho chủ sở hữu TS khi xảy ra sự kiện BH và làm giảm sự ảnh hưởng tiêu cực về tài chính.
Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản Hợp đồng bảo hiểm tài sản có vai trò cung cấp sự đảm bảo hay bù đắp về tài chính của người mua bảo hiểm mà người này có thể phải gánh chịu thiệt hại phát sinh trực tiếp từ tài sản bảo hiểm (như mất mát, thiếu hụt hay hư hỏng) do xảy ra một sự kiện bảo hiểm. Mặt khác, HĐBH tài sản còn có ý nghĩa to lớn trong việc phân chia rủi ro giữa bên mua BH và bên bán BH khi 8 có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Đối tượng của HĐBH không phải là TS, mà chính là quyền lợi về tài chính mà bên mua BH cho TS đó được bảo hiểm. Với mong muốn bảo đảm cho quyền lợi tài chính đó và nhằm làm giảm thiểu thiệt hại về tài chính trong trường hợp TS bị mất mát, thiếu hụt, hư hỏng, HĐBH tài sản được thiết lập.
Vì vậy HĐBHTS có những đặc điểm chung của HĐBH và có một vài đặc điểm riêng của HĐBHTS. Việc mua bán sản phẩm BH không mang tính “ngang giá”, mà theo đó người mua phải trả phí bảo hiểm, nhưng không nhận lại được vào chính thời điểm đó sự thực hiện cam kết của bên bán BH và không biết thực sự chất lượng sản phẩm (tức là dịch vụ) mình mua như thế nào. Chất lượng sản phẩm dịch vụ chỉ được bộc lộ khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, tức là khi TS bị tổn thất phải bồi thường theo quy định của luật pháp và trong khuôn khổ của những cam kết của bên bán BH. Tính đặc thù của HĐBHTS còn thể hiện ở chỗ bên bán BH và bên được BH đều không biết sự kiện bảo hiểm xảy ra khi nào bởi trong BHTS người BH chỉ dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra chứ không dám khẳng định chắc chắn chúng sẽ xảy ra.
Đặc điểm thứ nhất HĐBHTS là một HĐ trọng hình thức, tức là HĐ phải lập thành văn bản để thể hiện rõ ý định của các bên và làm rõ nghĩa vụ của từng bên nhằm bảo đảm thực hiện đúng và đầy đủ HĐ. Việc không thiết lập HĐ bằng văn bản sẽ dẫn đến khó khăn trong quản trị HĐ và giải quyết tranh chấp HĐ. Một công ty BH có thể cung cấp dịch vụ BH cho rất nhiều khách hàng khác nhau. Vì vậy cần thiết thiết lập HĐ bằng văn bản để theo dõi thực hiện, nhanh chóng đáp ứng bồi thường khi có sự kiện BH xảy ra, theo dõi để phòng tránh rủi ro xảy ra đối với đối tượng BH, đáp ứng các yêu cầu quản lý Nhà nước đối với dịch vụ bảo hiểm…, nhất là 9 khi có tranh chấp xảy ra, người giải quyết tranh chấp có thể căn cứ vào đó để biết rõ quyền và nghĩa vụ của các bên và giải quyết tranh chấp.
Đặc điểm thứ hai HĐBHTS mang đặc điểm của loại HĐ song vụ, có đền bù. HĐBHTS là một loại HĐ thương mại vì bên bán BH cung cấp ra một loại dịch vụ để kiếm lời. Do đó hai bên đều có lợi ích trao đổi với nhau. Bên mua BH trả tiền phí BH, còn bên BH chi trả bồi thường BH khi xảy ra sự kiện BH.
Đây là một đặc điểm quan trọng của HĐ thương mại, có nghĩa là đã là HĐ thương mại thì phải là HĐ song vụ có đền bù vì ít nhất bên thương nhân giao kết HĐ vì mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm thứ ba HĐBHTS là hợp đồng có điều kiện, trong đó nghĩa vụ của bên bảo hiểm chỉ phát sinh khi xảy ra sự kiện bảo hiểm được quy định trong hợp đồng. Khoản phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm trả cho bên bảo hiểm là để nhận được sự bảo vệ tài chính trong trường hợp xảy ra các rủi ro không chắc chắn, có thể gây ra tổn thất tài chính. Các sự kiện rủi ro này có thể xảy ra hoặc không xảy ra, và thời điểm, phạm vi tác động cũng như cách thức xảy ra thường không xác định trước.
Đặc điểm thứ tư HĐBHTS là HĐ thực tế, tức là HĐ chỉ có hiệu lực toàn bộ khi bên mua BH đã trả phí BH cho bên bán BH. Tuy nhiên trường hợp xảy ra sự kiện BH trong thời hạn ân hạn có thể là phát sinh nghĩa vụ bồi thường BH. Đặc điểm thứ năm HĐBHTS là HĐ thương mại. Trước kia pháp luật Việt Nam, cụ thể là Bộ luật Dân sự năm 1995 có các quy định về HĐBH.
Nhưng các thay đổi về lập pháp xảy ra.