phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách marketing dịch vụ Bảo hiểm. Chƣơng 2: Thực trạng các chính sách marketing cho sản phẩm bảo hiểm Tài sản - Kỹ thật tại PJICO Đà Nẵng. Chƣơng 3: Chính sách marketing cho sản phẩn bảo hiểm Tài sản – Kỹ thuật tại PJICO Đà Nẵng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH MARKETING DỊCH VỤ 1.
TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1. Khái niệm về marketing Trong thực tế, rất nhiều ngƣời bao gồm cả các nhà quản trị kinh doanh trƣờng cho rằng marketing là bán hàng, quảng cáo hoặc nghiên cứu thị trƣờng. Đó thực sự là các công việc cụ thể của makerting nhƣng hoàn toàn chƣa đầy đủ với phạm vi và bản chất của marketing. Marketing là khái niệm có nội hàm rộng lớn rất nhiều.
Trong thực tế kinh doanh, có một chuỗi những hoạt động không phải là sản xuất nhƣng thực sự góp phần tạo ra giá trị cho hàng hóa dịch vụ. Những hoạt động này đƣợc tiến hành trƣớc khi sản xuất, song song quá trình sản xuất, trong khâu tiêu thụ và giai ðoạn khi bán. Ðó chính là các hoạt động của doanh nghiệp trên thị trýờng - hoạt động marketing. Trƣớc khi đầu tƣ sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trƣờng nhằm xác định nhu cầu và quy mô thị trƣờng và các thông tin cần thiết để quyết định sản xuất sản phẩm này nhƣ thế nào? Quy mô sản xuất bao nhiêu?…Tiếp theo, họ phải nghiên cứu mức giá bán sản phẩm, tổ chức lực lƣợng bán hàng, thông tin về sản phẩm tới khách hàng, chăm sóc khách hàng sau khi họ đã mua…Tập hợp các hoạt động này chính là các hoạt động marketing.
Dƣới đây là một số khái niệm marketing: Philip Kotler - cha đẻ của học thuyết marketing hiện đại đã định nghĩa “Marketing là hoạt động của con người hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi” Hiệp hội Marketing Mỹ (1985) định nghĩa “Marketing là quá trình kế hoạch hóa và thực hiện các quyết định về sản phẩm, định giá, xúc tiến, và phân phối cho các hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa ` 7 mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức”. Các khái niệm marketing luôn đƣợc cập nhập cho phù hợp với những điều kiện kinh doanh mới. Vì vậy, hiệp hội Marketing Mỹ đã đƣa ra những định nghĩa mới “Marketing là chức năng quản trị của doanh nghiệp, là quá trình tạo ra, truyền thông và phân phối giá trị cho khách hàng và là quá trình quản lý quan hệ khách hàng theo cách đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp và các cổ đông” (2004). “Marketing là tập hợp các hoạt động, cấu trúc cơ chế và quy trình nhằm tạo ra, truyền thông và phân phối những thứ có giá trị cho người tiêu dùng, khách hàng, đối tác và xã hội nói chung” (2007).
Các khái niệm marketing đã chỉ ra hai nhóm hoạt động cơ bản của marketing đó là: (1)Nghiên cứu phát hiện, phân tích, đánh giá, lựa chọn nhu cầu và mong muốn đó của khách hàng và các đối tác liên quan; (2)Thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng sản phẩm/ dịch vụ và các công cụ trong hỗn hợp marketing (marketing – mix) của doanh nghiệp. Marketing không chỉ đƣợc ứng dụng trong lĩnh vực kinh doanh, mà còn đƣợc ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác. Mở rộng sang các lĩnh vực khác ngoài kinh doanh “Marketing đƣợc coi là môn khoa học về sự trao đổi, nó nghiên cứu và giải quyết tất cả các quan hệ trao đổi giữa một tổ chức hay cá nhân với môi trƣờng bên ngoài, giúp cho tổ chức (cá nhân) đó đạt đƣợc những mục tiêu đã dự định với kết quả và hiệu quả cao nhất” Nhƣ vậy, một cách tổng quát, marketing có thể xem nhƣ quá trình xã hội nhờ đó các tổ chức hoặc cá nhân thoả mãn nhu cầu và mong muốn thông qua việc tạo ra và trao đổi những thứ có giá trị với những ngƣời khác. Khái niệm về marketing dịch vụ Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống với những quy luật của thị trƣờng dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa ` 8 mãn nhu cầu của thị trƣờng mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức.
Marketing đƣợc duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của ngƣời tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, ngƣời tiêu dùng và xã hội. (Marketing trong kinh doanh dịch vụ, TS. Khái niệm đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản của marketing dịch vụ: - Nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm nhu cầu của thị trƣờng mục tiêu và những yếu tố chi phối thị trƣờng mục tiêu. - Thỏa mãn nhu cầu có hiệu quả hơn đối với đối thủ cạnh tranh trên cơ sở khai thác và huy động các nguồn lực của tổ chức.
- Thực hiện cân bằng động các mối quan hệ sản phẩm dịch vụ (loại hình, số lƣợng, chất lƣợng) với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng. Khái niệm về marketing bảo hiểm Thuật ngữ Marketing bảo hiểm đề cập đến việc marketing của dịch vụ bảo hiểm với mục đích tạo ra khách hàng và tạo ra lợi nhuận cho Công ty bảo hiểm thông qua sự thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng. Marketing bảo hiểm tập trung đến việc xây dựng một hỗn hợp ý tƣởng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm để từ đó doanh nghiệp bảo hiểm tồn tại và phát triển mạnh mẽ. Để tổ chức tốt hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhà quản lý cần phải nhận biết đƣợc các nội dung cơ bản của các biến số trong marketing bảo hiểm.
Marketing bảo hiểm thực chất là hoạt động Marketing hỗn hợp cho Công ty bảo hiểm, là một công ty kinh doanh dịch vụ đặc biệt. Tƣơng tự nhƣ hoạt động marketing hổn hợp của kinh doanh dịch vụ thì marketing bảo hiểm cũng có 7 biến số cụ thể nhƣ sau: 1. Physical Điều kiện vật chất); 7. Đặc điểm của dịch vụ và tác động của nó đến các chính sách phát triển dịch vụ Tính vô hình: - Dịch vụ không thể nhìn thấy nên khó cảm nhận đánh giá trƣớc khi khách hàng mua và sử dụng.
- Phát triển thêm yếu tố hữu hình trong dịch vụ để giảm tính không chắn chắc. Tính không thể tách rời: - Dịch vụ không thể tách rời khỏi ngƣời cung ứng dịch vụ. Cả ngƣời cung ứng và khách hàng đều tham gia vào chất lƣợng và kết quả của dịch vụ - Phát triển dịch vụ phải luôn cải tiến và hoàn thiện trong quá trình cung cấp dịch vụ. Tính không đồng đều về chất lượng Do dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát, trƣớc hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra dịch vụ nhƣ nhau trong những thời điểm khác nhau.
Khách hàng tiêu dùng là ngƣời quyết định chất lƣợng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ. Trong những khoảng thời gian khác nhau sự cảm nhận cũng khác nhau. Sản phẩm dịch vụ sẽ có giá trị cao khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng. Dịch vụ không đồng nhất còn do dịch vụ bao quanh và môi trƣờng vật chất hay thay đổi.
Tính không lưu trữ được Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian nó đƣợc cung cấp. Do vậy dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt, cất vào kho lƣu trữ, khi có nhu cầu thị trƣờng thì đem ra. Với đặc tính này của dịch vụ, nếu không tuân thủ những điều kiện đó sẽ ` 10 không có cơ hội mua bán và tiêu dùng chúng. Đặc tính này sẽ ảnh hƣởng đến các chính sách marketing dịch vụ nhƣ chính sách giá thay đổi theo thời gian, mùa vụ, chính sách dự báo nhu cầu, kế hoạch bố trí nhân lực,…Cần dự báo nhu cầu chính xác để có chính sách phát triển dịch vụ hợp lý đảm bảo cân đối cung cầu tốt hơn Tính không chuyển quyền sở hữu Khi mua một hàng hóa, khách hàng đƣợc chuyển quyền sở hữu và trở thành sở hữu hàng hóa của mình đã mua.
Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ đƣợc quyền sử dụng dịch vụ, đƣợc hƣởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH MARKETING DỊCH VỤ Để xây dựng đƣợc một chính sách marketing-mix cho một sản phẩm trong doanh nghiệp, thông thƣờng, nhà quản trị marketing phải thực hiện qua năm giai đoạn. Xác định mục tiêu của marketing Trong một giai đoạn nhất định, doanh nghiệp có thể theo đuổi một số mục tiêu khác nhau. Có thể đó là mục tiêu nâng cao giá trị thƣơng hiệu của sản phẩm trên thị trƣờng, cũng có thể là mục tiêu doanh số, mở rộng thị phần hoặc lợi nhuận.
Mục tiêu marketing đƣợc thiết lập với năm yêu cầu theo mô hình SMART (cụ thể-specific; có thể do lƣờng-Meaurable; có thể đạt đƣợc- Achieable; thực tế- Realistic; có hạn mức thời gian- time) Thông thƣờng, một chiến lƣợc marketing-mix có nhiều mục tiêu, giữa các mục tiêu này không phải bao giờ cũng dễ thống nhất. Do đó, cần phải có một hệ thống cân bằng giữa các mục tiêu cho phép lựa chọn một chiến lƣợc thỏa mãn tốt nhất toàn bộ các mục tiêu trong số nhiều chiến lƣợc đáp ứng không bằng nhau các chiến lƣợc khác nhau có thể cân bằng các cách sau: ` 11 - Xác lập trình tự các mục tiêu - Điều chỉnh các mục tiêu - Qui định giới hạn 1. Phân tích môi trƣờng marketing Môi trƣờng marketing là tổng hợp các yếu tố, các lực lƣợng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hƣởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động marketing của họ. Mục tiêu cơ bản bƣớc này là tìm kiếm và lựa chọn cơ hội kinh doanh (cơ hội marketing) trong môi trƣờng kinh doanh không ngừng biến đổi mà doanh nghiệp phải đối mặt nhằm theo đuổi đƣợc mục tiêu của mình.
Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ trọng tâm mà nhà quản trị cần thực hiện là thiết lập hệ thống thông tin và nghiên cứu marketing, đảm nhiệm chức năng cung cấp những thông tin có giá trị về môi trƣờng vĩ mô, ngành kinh doanh và nội bộ doanh nghiệp theo yêu cầu của quản trị marketing. Môi trƣờng đƣợc cấu thành bởi hai môi trƣờng cơ bản là môi trƣờng vĩ mô và môi trƣờng vi mô.