Hôn nhân và gia đình truyền thống người Mường ở Kỳ Phú, Ninh Bình

Khám phá hôn nhân và gia đình truyền thống của người Mường tại Kỳ Phú, Ninh Bình. Bài viết phân tích những nét văn hóa xưa và sự biến đổi hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2011

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá Hôn nhân người Mường Kỳ Phú Nét đẹp văn hóa

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội phổ quát, đánh dấu sự khởi đầu của một gia đình mới. Đối với dân tộc Mường ở xã Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình), hôn nhân không chỉ là việc của đôi nam nữ mà còn là sự kiện trọng đại của cả gia đình, dòng họ và cộng đồng. Các nghi lễ hôn nhân truyền thống của người Mường tại đây mang đậm bản sắc văn hóa Mường, phản ánh sâu sắc quan niệm về cuộc sống, gia đình và các mối quan hệ xã hội. Đây là một hệ thống các quy tắc, tập tục được định hình và duy trì qua nhiều thế hệ, từ việc lựa chọn bạn đời, các bước dạm hỏi, ăn hỏi cho đến lễ cưới và cuộc sống sau hôn nhân. Nghiên cứu về chủ đề này không chỉ làm rõ những giá trị văn hóa độc đáo mà còn cho thấy bức tranh sống động về đời sống gia đình người Mường trong bối cảnh lịch sử và xã hội cụ thể tại vùng đất giao thoa giữa văn hóa Hòa Bình và đồng bằng Bắc Bộ.

1.1. Tổng quan về cộng đồng người Mường tại xã Kỳ Phú

Xã Kỳ Phú là một xã miền núi của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, nơi cộng đồng người Mường chiếm đến 75% dân số. Theo các tài liệu nghiên cứu, người Mường đã định cư tại đây từ rất lâu, có nguồn gốc di cư từ vùng Mường Bi (Hòa Bình). Họ sống quần cư thành các bản, mỗi bản thường gắn với một dòng họ lớn như họ Đinh, Quách, Bùi. Đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp trồng lúa nước và nương rẫy, kết hợp với chăn nuôi và khai thác lâm sản. Chính môi trường tự nhiên và lịch sử cư trú đã định hình nên một nền văn hóa Mường đặc sắc tại Kỳ Phú, thể hiện rõ nét qua nhà sàn, trang phục, ẩm thực và đặc biệt là các phong tục, tín ngưỡng, trong đó có phong tục cưới hỏi người Mường.

1.2. Quan niệm cốt lõi trong hôn nhân truyền thống người Mường

Trong xã hội truyền thống, người Mường coi hôn nhân là việc hệ trọng, với mục đích chính là duy trì nòi giống, có thêm người lao động và củng cố mối quan hệ dòng họ. Quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” khá phổ biến, quyền quyết định hôn nhân phần lớn thuộc về cha mẹ. Nam nữ đến tuổi kết hôn (thường từ 15-20 tuổi) được gia đình thúc giục dựng vợ gả chồng. Người Mường đặc biệt coi trọng sự trinh tiết của người con gái và nghiêm cấm việc quan hệ tình dục trước hôn nhân. Một cô gái khi về nhà chồng phải là người nết na, chăm chỉ, tháo vát việc đồng áng và quán xuyến gia đình. Quan niệm này là nền tảng chi phối toàn bộ các tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng và các nghi lễ phức tạp trong đám cưới.

II. Hướng dẫn các nghi lễ hôn nhân truyền thống người Mường

Các bước trong phong tục cưới hỏi người Mường ở Kỳ Phú là một quy trình phức tạp, trang trọng và tốn kém, thể hiện sự tôn trọng giữa hai gia đình và sự gắn kết cộng đồng. Toàn bộ quá trình, từ lúc tìm hiểu đến khi cô dâu chính thức về nhà chồng, phải trải qua nhiều giai đoạn với các lễ vật và thủ tục chặt chẽ. Mỗi nghi lễ đều mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, từ lễ dạm hỏi (óong rạo) mang tính chất thăm dò, lễ ăn hỏi (bỏ trầu) để chính thức công nhận mối quan hệ, cho đến lễ cưới và lễ đón dâu long trọng. Vai trò của ông mối bà mai là cực kỳ quan trọng, họ là cầu nối, người dẫn dắt và đảm bảo các thủ tục được diễn ra đúng với lệ làng, góp phần tạo nên sự thành công cho hôn sự. Các lễ vật như trầu cau, bánh dày, rượu, và đặc biệt là sính lễ đám cưới Mường không chỉ là vật chất mà còn là thước đo cho danh dự và vị thế của gia đình.

2.1. Lễ dạm hỏi Óong rạo và Lễ ăn hỏi Bỏ trầu

Lễ dạm hỏi là bước đầu tiên, nhà trai nhờ người mai mối mang lễ vật gồm rượu, thịt, trầu cau và 6 quả trứng vịt luộc sang nhà gái. Con số 6 tượng trưng cho 6 điều may mắn: kiên (kiên trì), trừ (trừ tà), mãn (sung túc), bình (bình an), sinh (sinh sôi), lão (sống lâu). Nếu nhà gái ưng thuận, hai bên sẽ bàn đến lễ ăn hỏi. Trong lễ này, nhà trai mang sang 62 quả cau và 62 lá trầu (nếu cô gái còn trinh) cùng các lễ vật khác. Việc nhà gái nhận trầu cau và chia cho họ hàng mang ý nghĩa cô gái đã có nơi có chốn, chính thức đánh dấu mối thông gia giữa hai họ.

2.2. Thách cưới và ý nghĩa sính lễ đám cưới Mường

Sau lễ ăn hỏi, hai gia đình sẽ bàn bạc về lễ vật nạp tài, hay còn gọi là thách cưới. Đây là một trong những thủ tục quan trọng và tốn kém nhất. Theo tài liệu ghi nhận tại Kỳ Phú, lễ vật nhà trai phải chuẩn bị thường bao gồm: 20kg lúa (nếp và tẻ), 62 chiếc bánh to, 12 chai rượu, một con lợn khoảng 50-60kg, năm đồng bạc trắng và nhiều lễ vật khác. Số lượng sính lễ thể hiện tiềm lực kinh tế và sự tôn trọng của nhà trai đối với nhà gái. Nhiều gia đình phải mất hàng năm trời để chuẩn bị đủ lễ vật, điều này cho thấy tầm quan trọng của hôn nhân trong đời sống gia đình người Mường xưa.

2.3. Lễ cưới và tục lệ đón dâu độc đáo trong văn hóa Mường

Lễ cưới thường được tổ chức ở cả hai nhà. Đến ngày giờ đẹp, đoàn nhà trai sang thực hiện lễ đón dâu. Lễ vật mang theo gồm bánh dày, vải trắng, vải lụa và một chiếc yếm đỏ do mẹ chồng chuẩn bị cho nàng dâu mới. Chú rể và cô dâu sẽ làm lễ gia tiên, lạy tạ cha mẹ. Một nét đặc biệt là bố mẹ cô dâu không tham gia đoàn đưa dâu về nhà chồng. Sau khi cưới, cô dâu sẽ ở hẳn bên nhà chồng, bắt đầu cuộc sống mới. Hình thức ở rể không phổ biến, trừ trường hợp gia đình vợ không có con trai. Đây là biểu hiện rõ nét của chế độ mẫu hệ đã suy yếu và chế độ phụ quyền được xác lập vững chắc.

III. Phân tích biến đổi xã hội và hôn nhân người Mường

Trong bối cảnh hiện đại hóa nông thôn và hội nhập kinh tế, hôn nhân người Mường tại Kỳ Phú đang trải qua những biến đổi xã hội sâu sắc. Các nghi lễ truyền thống phức tạp và tốn kém đang dần được đơn giản hóa. Quyền tự do yêu đương và quyết định hôn nhân của cá nhân được đề cao hơn, thay thế cho sự sắp đặt của cha mẹ trước đây. Sự giao thoa văn hóa với người Kinh và tác động của truyền thông đại chúng đã làm thay đổi quan niệm, tiêu chuẩn chọn bạn đời cũng như hình thức tổ chức đám cưới. Tuy nhiên, sự biến đổi này cũng đặt ra nhiều thách thức cho việc bảo tồn văn hóa dân tộc. Một số nét đẹp trong phong tục đang có nguy cơ mai một, trong khi những yếu tố tiêu cực như thách cưới nặng nề đôi khi vẫn còn tồn tại dưới hình thức mới, gây áp lực kinh tế cho các gia đình.

3.1. Tác động của hiện đại hóa đến các nghi lễ cưới hỏi

Sự phát triển kinh tế và giao thông thuận lợi đã làm thay đổi cách thức tổ chức đám cưới. Thay vì đi bộ, các đoàn rước dâu hiện nay sử dụng xe máy, ô tô. Các thủ tục rườm rà như đi lại nhiều lần trong lễ dạm hỏi, ăn hỏi được rút gọn. Lễ vật thách cưới không còn là hiện vật như lúa, lợn mà thường được quy ra tiền mặt. Đám cưới được tổ chức gọn nhẹ hơn, có sự xuất hiện của các dịch vụ cho thuê phông bạt, loa đài, mang dáng dấp của đám cưới người Kinh. Những thay đổi này vừa giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, vừa làm phai nhạt đi một phần bản sắc văn hóa Mường.

3.2. Sự thay đổi trong tiêu chuẩn chọn vợ chọn chồng hiện nay

Nếu trước đây, tiêu chuẩn chọn bạn đời tập trung vào sự chăm chỉ, tháo vát và gia cảnh thì ngày nay, các yếu tố như trình độ học vấn, công việc ổn định và tình yêu được đặt lên hàng đầu. Nam nữ có nhiều cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu nhau qua trường học, nơi làm việc và mạng xã hội. Quyền tự do hôn nhân được tôn trọng, cha mẹ chỉ đóng vai trò tư vấn, định hướng. Vấn đề môn đăng hộ đối vẫn còn nhưng được nhìn nhận thoáng hơn. Tình trạng hôn nhân cận huyết cũng giảm đáng kể nhờ nhận thức được nâng cao.

3.3. Thách thức từ Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam

Sự ra đời và phổ biến của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam đã mang lại những thay đổi tích cực. Luật pháp quy định tuổi kết hôn, nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, bình đẳng giữa vợ và chồng. Điều này giúp xóa bỏ các hủ tục như tảo hôn, ép gả, đa thê (dù ít phổ biến). Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật ở vùng sâu vùng xa đôi khi còn gặp khó khăn. Sự xung đột giữa luật tục và luật pháp đôi khi vẫn xảy ra, đòi hỏi sự tuyên truyền, vận động khéo léo để người dân vừa tuân thủ pháp luật, vừa giữ gìn được những giá trị văn hóa tốt đẹp.

IV. Top 3 giải pháp bảo tồn bản sắc văn hóa Mường hiệu quả

Trước những biến đổi xã hội mạnh mẽ, việc bảo tồn văn hóa dân tộc và những giá trị tốt đẹp trong hôn nhân người Mường trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Để thực hiện điều này, cần có những giải pháp đồng bộ, kết hợp giữa phát triển kinh tế, tuyên truyền giáo dục và nâng cao nhận thức của chính cộng đồng. Mục tiêu không phải là khôi phục nguyên trạng các tập tục xưa cũ mà là gạn lọc, kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn, phù hợp với cuộc sống hiện đại. Việc bảo tồn phải gắn liền với việc cải thiện đời sống gia đình người Mường, đảm bảo hôn nhân được xây dựng trên nền tảng tình yêu, bình đẳng và tuân thủ pháp luật, đồng thời vẫn giữ được nét độc đáo của văn hóa Mường.

4.1. Nâng cao vai trò giáo dục của đời sống gia đình người Mường

Gia đình là môi trường đầu tiên nuôi dưỡng và trao truyền văn hóa. Cần phát huy vai trò của các thế hệ lớn tuổi trong việc giáo dục con cháu về nguồn gốc, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc. Các bậc cha mẹ cần là tấm gương trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ theo tinh thần của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam. Đồng thời, cần khuyến khích duy trì các hoạt động văn hóa gia đình như sử dụng tiếng Mường, mặc trang phục truyền thống trong các dịp lễ, tết để bản sắc văn hóa Mường không bị mai một.

4.2. Phương pháp tuyên truyền để bảo tồn văn hóa dân tộc

Các cấp chính quyền và đoàn thể tại xã Kỳ Phú cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình. Song song đó, cần tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội để tái hiện, giới thiệu những nét đẹp trong nghi lễ hôn nhân truyền thống. Sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, sân khấu hóa và xây dựng các sản phẩm văn hóa du lịch có thể là cách hiệu quả để quảng bá và nâng cao lòng tự hào dân tộc, từ đó thúc đẩy ý thức bảo tồn văn hóa trong cộng đồng.

4.3. Kết hợp phát triển kinh tế với gìn giữ văn hóa Hòa Bình

Phát triển kinh tế bền vững là nền tảng để bảo tồn văn hóa. Cần có chính sách hỗ trợ người dân Kỳ Phú phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, từ đó giảm bớt các áp lực kinh tế trong hôn nhân. Việc phát triển du lịch cộng đồng, gắn với trải nghiệm văn hóa Mường (bao gồm cả việc tìm hiểu phong tục cưới hỏi) là một hướng đi tiềm năng. Điều này không chỉ tạo sinh kế mà còn biến di sản văn hóa thành một nguồn lực phát triển, giúp người dân nhận thức rõ hơn giá trị và trách nhiệm trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa của mình.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÀ NGƯỜI MƯỜNG Ở KỲ PHÚ (NHO QUAN, NINH BÌNH) 1.1 Tổng quan về người Mường ở Việt Nam 1. Tên gọi, nguồn gốc lịch sử, dân số và phân bố dân cư Về tên gọi: Dân tộc Mường được xếp vào nhóm các dân tộc có tiếng nói thuộc hệ ngôn ngữ Việt- Mường. Trong đời sống và cả trong văn học dân gian người Mường tự gọi mình là Mol, Mual, Mul, Mon.Tùy theo cách gọi của từng địa phương. Cả Mol, Mual, Mul, Mon .đều có nghĩa là người.

Trước kia, người Mường không tự gọi mình là “Mường” để phân biệt với các dân tộc láng giềng, họ tự gọi mình là “ Mol tloong” có nghĩa là người trong khác với “Mol ngoài” là người ngoài. Theo tập quán đồng bào thường nêu tên địa phương, tên vùng miền cư trú, chẳng hạn nói mình là “ Mol Mương Vang”, hay “Mol Mương Chanh” có nghĩa là người Mường Vang, người Mường Chanh, qua giao tiếp với các dân tộc khác tiếng để chỉ địa phương, chỉ vùng ít được chú ý hoặc quên đi và chỉ còn nhớ lại tiếng Mường. Còn trong các tác phẩm viết bằng chữ Hán thời phong kiến, từ Mường thường được phiên âm là từ Mang – một từ dùng để chỉ một địa phương, một khu vực, một vùng hay có khi dùng để chỉ một nước. Dần dần từ Mường vốn để chỉ một địa phương đã trở thành tên dân tộc và hiện nay từ Mường đã trở thành tộc danh chính thức.

Hiện nay, chưa thể xác định một cách chắc chắn tộc danh Mường xuất hiện từ bao giờ song đã tìm thấy một số cứ liệu nói về thời gian xuất hiện của tộc danh Mường. Nguyễn Dương Bình khi bàn về mối quan hệ Việt- Mường trong lịch sử đã viết: Trong sách lược của kinh lược Nguyễn Trọng 8 Hiệp đề ngày hai ba tháng sáu năm Đồng Khánh thứ nhất (23/6/1888). Ở điều một có nói “Lập một tỉnh gồm các đất(của dân) Mường xưa thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội, Vĩnh Phú. Như vậy, theo Nguyễn Dương Bình thì từ Mường xuất hiện vào khoảng thế kỉ XVII.

Tuy nhiên, trong các bài báo của các sĩ quan và viên chức thực dân Pháp hồi cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỉ XX, tiếng Mường vẫn được dùng một cách tùy tiện nhiều khi để chỉ những tộc người khác và người Mường. Mãi sau tộc danh Mường mới được dùng để chỉ nhóm người Mường như hiện nay. Về nguồn gốc, lịch sử: Đại đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng người Mường và người Việt có chung một nguồn gốc. Theo tài liệu khảo cổ học và một số tài liệu khác đã chứng minh tổ tiên người Mường, người Việt là người Lạc Việt – vốn là một khối thống nhất từ xa xưa, là chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng.

Xét về mặt ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Mường đều có những điểm tương đồng về ngữ pháp, ngữ âm và từ vị. Về mặt nhân chủng hai nhóm Việt Mường cùng chung những đặc điểm nhân chủng trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit phương Nam. Về phong tục tập quán giữa người Việt và người Mường có chung những đặc điểm về tục ăn trầu, làm bánh chưng, nhuộm răng đen.Đây là những cứ liệu được xem xét một cách có hệ thống để tìm hiểu mối quan hệ thân thuộc giữa người Việt và người Mường, từ đó có thể khẳng định người Việt và người Mường có chung một nguồn gốc dân tộc.Vào thời Hùng Vương cả hai dân tộc Việt và Mường vẫn là một khối thống nhất nhưng đến thời kì Bắc thuộc, đất nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, chúng bóc lột nhân dân ta bằng tô thuế, lao dịch hết sức nặng nề. Lúc này, một bộ phận của khối thống nhất đã chống lại sự áp bức, bóc lột và thống trị của quan quân nhà Hán nên đã lùi sâu hơn vào miền rừng núi.

Thời kì này đã có cuộc di cư của người Việt cổ ở đồng bằng, trung du, lên miền núi để thoát khỏi sự ràng buộc và chính sách đồng hóa của 9 các thế lực bên ngoài. Những người mới di cư lên, cùng với cư dân cũ ở đây trong điều kiện và hoàn cảnh cư trú của miền rừng núi ít thuận lợi đã làm cho sự phát triển của xã hội phần nào chậm hơn sự phát triển của đồng bằng. Những người ở miền xuôi điều kiện sinh sống thuận lợi hơn cộng thêm với với việc chịu sự thống trị trực tiếp của phong kiến phương Bắc nên chịu ảnh hưởng của Trung Hoa cả về mặt văn hóa lẫn xã hội, dần dần biến đổi thành người Việt. Còn một bộ phận những người ở miền núi sống trong các thung lũng, chân núi xa xôi hẻo lánh không trực tiếp bị phong kiến phương Bắc thống trị nên ít chịu ảnh hưởng trở thành một dân tộc thiểu số đó là người Mường hiện nay.

Từ đây hình thành nên hai nền văn hóa: Văn hóa Mường và văn hóa Việt. Văn hóa Mường buổi đầu tuy gặp khó khăn nhưng do ít chịu ảnh hưởng và biến động bên ngoài nên vẫn kiên trì và bảo lưu được nhiều nét văn hóa cổ truyền của tổ tiên xưa đến tận ngày nay về ăn mặc đi lại.làm cho người Mường có những đặc điểm riêng biệt, độc đáo trở thành bản sắc riêng khác với các dân tộc anh em và ngay cả với người Việt vốn có chung nguồn gốc. Về đặc điểm dân số và phân bố dân cư: Người Mường cư trú trên một địa bàn khá rộng ít bị chia cắt thành những khu vực cách biệt hẳn nhau. Về địa lý cư trú của người Mường được hình thành như một khối đệm giữa miền xuôi và miền núi.

Nơi họ mang tính chất trung du khá đậm nét, họ tập trung chủ yếu trong các thung lũng lòng chảo, xung quanh có núi bao bọc có những cánh đồng có thể làm ruộng nước. Người Mường thường tìm đến những chỗ gần sông suối, những nơi có điều kiện đưa nước vào ruộng và ven các đồi núi không cao lắm. Địa vực cư trú của người Mường nằm giữa vùng người Việt ở phía Đông và vùng người Thái ở phía Tây, chiều dài khoảng 350km từ Tây Bắc tỉnh Yên Bái đến Tây Bắc tỉnh Nghệ An, chiều rộng khoảng 80-90km. Người Mường sống tập trung ở các tỉnh như Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ.Ở Hòa Bình họ có mặt ở tất cả các huyện với số dân là 501.956 người, 10 chiếm khoảng 64% dân số toàn tỉnh.

Ở Thanh Hóa, người Mường sống tập trung ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Bá Thước, Thạch Thành.với số dân là 341.359 người chiếm 10% dân số toàn tỉnh. Ở Phú Thọ, người Mường sống tập trung ở các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy.với dân số là 184.141 người chiếm 14% dân số toàn tỉnh. Ở Sơn La người Mường có mặt ở các huyện Phù Yên, Bắc Yên, Mộc Châu. Ở Yên Bái người Mường định cư chủ yếu ở các huyện Văn Chấn, Trấn Yên với 14.

Ở Hà Nội, người Mường có khoảng 49. Còn tại Ninh Bình, người Mường sống chủ yếu ở huyện Nho Quan với 22.614 người ( số liệu năm 2009 ) Ngoài dải đất ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, hiện nay người Mường còn cư trú ở các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên như tỉnh Đắk Lắk với 15.510 người, ở Bình Dương là 10.người Mường đi đến đâu thì văn hóa Mường lan tỏa ra đên đó. Tuy nhiên, có một đặc điểm về cư trú của người Mường khá thống nhất suốt từ miền Tây Thanh Hóa đến Yên Bái, ở tỉnh nào người Mường cũng ở phía Tây so với người Kinh. Ở Yên Bái, người ta chỉ thấy một Mường nhỏ bên bờ sông Hồng, tất cả các làng khác đều tụ tập trên cao nguyên Nghĩa Lộ.

Ở Sơn La các làng ở bên sông đã có người Mường ở từ Thạch Bi theo xu hướng định cư ở nơi thấp hơn. Trong tỉnh Phú Thọ người Mường được phân chia đều trong các làng ở bên bờ hay gần bờ sông Hồng và trong những làng ở trên những ngọn núi cao hơn sông. Trong tỉnh Hà Tây(cũ) người Mường cũng tập trung trong các sườn gò và thung lũng. Ở tỉnh Thanh Hóa người Mường sinh sống chủ yếu ở thung lũng các sông như sông Mã, sông Luồng, sông Âm tại các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy.Ngoài ra, họ còn cư trú ở các thung lũng như đồi núi thấp của huyện Thường Xuân, Lang Chánh, đồi núi thấp xen bán bình nguyên cổ và thung lũng rộng ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy.Ở Ninh Bình người Mường sinh sống tập trung ở huyện Nho Quan trong các thung lũng lòng chảo, 11 dưới chân núi, điều kiện giao thông tương đối thuận lợi làm cho văn hóa người Mường nơi đây khá độc đáo và có sự giao lưu với tiếp biến văn hóa Mường ở Hòa Bình, Mường Thanh Hóa và đặc điểm với người Kinh trong quá trình cùng cư trú.

Như vậy, có thể thấy cư dân Mường thích ứng với loại địa hình trung hóa trung du, khu vực họ cư trú là cây cầu nối gắn liền miền núi và đồng bằng, họ cư trú ở các đồi núi nhưng phải gần nguồn nước. Họ sống gần sông Đà, sông Mã, trong các thung lũng chân núi, địa lý, môi sinh có nhiều thuận lợi cho sản xuất. Chính những đặc điểm cư trú đã tác động tích cực đến đời sống của người Mường. Trên cơ sở người Mường đã sáng tạo ra văn hóa thung lũng đa dạng, thống nhất nền văn hóa ấy coi là gạch nối giữa văn hóa miền núi- văn hóa châu thổ.

Đặc điểm kinh tế, xã hội của người Mường Người Mường cư trú ở các thung lũng chân núi và trung du. Từ xa xưa người Mường đã lấy trồng trọt là hoạt động kinh tế chủ đạo nuôi sống họ. Đặc biệt, nghề trồng lúa nước đóng vai trò vô cùng quan trọng, kỹ thuật canh tác lúa nước của đồng bào Mường không thua kém gì với kỹ thuật canh tác của người Việt. Kỹ thuật canh tác của họ gồm nhiều công đoạn nhưng có 4 công đoạn chính là: làm đất, gieo trồng, chăm bón và thu hoạch.

Từng khâu kỹ thuật được người Mường làm khá thành thạo. Công cụ để canh tác chủ yếu là cày bừa, cuốc, liềm, cào cỏ.Cây trồng chủ yếu là lúa, sắn, khoai, đỗ.trong đó, cây lúa đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong các loại giống cây trồng. Trên nền tảng của truyền thống là làm nông nghiệp ruộng nước, người Mường đã xây dựng một hệ thống nông lịch hoàn chỉnh. Đồng thời, đúc kết và tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong trồng trọt đến ngày nay vẫn còn có nhiều ý nghĩa quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ