chương 1 sẽ giới thiệu về chính sách NGVH của Trung Quốc và tập trung làm rõ vị trí, vai trò của HVKT trong chính sách này. Chƣơng 2: Cơ cấu, tổ chức, phƣơng thức triển khai chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc của Học viện Khổng Tử ở nƣớc ngoài. Nội dung chương 2 sẽ đi sâu vào nhận diện cơ cấu tổ chức của HVKT; phân tích phương thức triển khai các hoạt động của HVKT trong việc tăng cường hiệu quả của chính sách NGVH thông qua phổ biến ngôn ngữ, thúc đẩy giao lưu văn hóa và quảng bá hình ảnh của Trung Quốc tại các nước sở tại. Lấy ví dụ một số trường hợp cụ thể ở Đức, Australia.
Chƣơng 3: Đánh giá hiệu quả hoạt động của Học viện Khổng Tử trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam. Nội dung chương 3 gồm có những đánh giá về thành công và hạn chế của HVKT trong việc triển khai chính sách NGVH của Trung Quốc trên thế giới, những căn cứ thực tế để thành lập HVKT tại Việt Nam và đề xuất một số gợi mở về đối sách của Việt Nam đối với hoạt động của HVKT. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC 1. Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa 1.
Khái niệm ngoại giao, văn hóa và ngoại giao văn hóa 1. Khái niệm ngoại giao Ngoại giao là một lĩnh vực rộng lớn và khái niệm ngoại giao cũng được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau. Trên thế giới có nhiều khái niệm về ngoại giao, nhưng tựu chung lại có thể phân thành 3 dạng cơ bản: - Thứ nhất, dạng định nghĩa thiên về hình thức ngoại giao và chủ yếu coi trọng vai trò của các nhà ngoại giao, các chính khách. Dạng định nghĩa này xác định, ngoại giao là việc là thông qua đàm phán để xử lý các vấn đề quan hệ đối ngoại.
Cụ thể: Trong Từ điển Anh ngữ Oxford chỉ ra ngoại giao là ―(1) Thông qua đàm phán xử lý quan hệ quốc tế; (2) Phương pháp mà đại sứ hoặc các nhân viên ngoại giao điều chỉnh và xử lý những quan hệ này; (3) Nghiệp vụ hoặc kỹ thuật của nhà ngoại giao; (4) Kỹ năng hoặc cách ăn nói trong xử lý quan hệ giao lưu và đàm phán quốc tế‖ [12, tr. Trong Đại từ điển tiếng Việt: ―ngoại giao có nghĩa là công việc giao thiệp giữa quốc gia với các quốc gia nước ngoài và giải quyết các vấn đề quốc tế‖ [41, tr. - Thứ hai, dạng định nghĩa nhấn mạnh về chức năng của ngoại giao, cho rằng ngoại giao có chức năng xử lý quan hệ quốc gia và công việc quốc tế. Từ điển Ngoại giao của Liên Xô do A.
Gromyko chủ biên định nghĩa: ―Ngoại giao là công cụ thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia, là tổng thể những biện pháp phi quân sự, những phương pháp, thủ thuật được sử dụng có tính đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu nhiệm vụ; hoạt động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, các đoàn đại biểu tại các hội nghị quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chính sách đối ngoại của quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc gia, pháp nhân và công dân mình ở nước ngoài. Đồng thời, ngoại giao là nghệ thuật đàm phán nhằm ngăn chặn hoặc dàn xếp những xung đột quốc tế, tìm cách thỏa hiệp và đưa ra những giải pháp có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc mở rộng và củng cố hợp tác quốc tế‖ [32, tr. Trong ―Khái luận ngoại giao học‖ của học giả Trung Quốc Lỗ Dịch Đẳng, ngoại giao được định nghĩa như sau: ―Ngoại giao là lấy chủ quyền quốc gia làm chủ thể, thông qua cơ cấu chính thức giao thiệp, đàm phán và các phương thức hoà bình khác để thi hành chủ quyền đối ngoại, lấy việc xử lý quan hệ quốc gia cùng việc tham gia công việc quốc tế, thủ đoạn quan trọng của một nước nhằm bảo vệ lợi ích của nước mình và thực thi chính sách đối ngoại của mình… Nói đơn giản, ngoại giao là chỉ bất kỳ cái gì lấy chủ quyền quốc gia làm chủ thể, thông qua phương thức hoà bình, xử lý quan hệ quốc gia và quan hệ quốc tế‖ [4, tr. - Thứ ba, định nghĩa ngoại giao với tư cách là một hành vi đối ngoại của quốc gia có chủ quyền.
Trong từ điển Hán ngữ hiện đại, ngoại giao được giải thích ―là hoạt động của một nước trong phương diện quan hệ quốc tế như tham gia tổ chức và hội nghị quốc tế, cử đại sứ lẫn nhau với nước khác, tiến hành đàm phán, ký kết điều ước và hiệp định‖ [71, tr. Trong ―Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc‖, ngoại giao là ―loại hoạt động mà nhà nước dùng thủ đoạn hoà bình thi hành chủ quyền; thông thường là chỉ hoạt động qua lại đối ngoại của nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đại diện cơ quan ngoại giao nhà nước tiến hành [68, tr. Như vậy, mỗi cách định nghĩa về ngoại giao lại chú trọng nêu bật lên những khía cạnh mà nó cho là chủ yếu nhất của khái niệm. Từ việc xem xét các định nghĩa nêu trên, chúng tôi xác định, ngoại giao là hoạt động của nhà nước, thông qua các cơ quan chuyên trách về đối ngoại để thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia nhằm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia; là một khoa học tổng hợp của các yếu tố chính trị, xã hội; là nghệ thuật đàm phán nhằm mở rộng các quan hệ quốc tế, giải quyết các vấn đề quốc tế bằng hình thức hòa bình, giảm thiểu xung đột.
Ngoại giao mang tính giai cấp sâu sắc. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm trừu tượng, có liên quan mật thiết đến mọi mặt của đời sống xã hội. Chính vì thế, định nghĩa về văn hóa cũng vô cùng đa dạng, với mỗi góc nhìn khác nhau lại có những cách hiểu về văn hóa khác nhau.
Từ góc độ ngôn ngữ học, tại châu Âu, ―người ta dùng từ ―culture‖ có gốc Latinh là chữ ―cultus animi‖ nghĩa là trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên‖ [8, tr. Sau đó, từ này dần chuyển nghĩa thành sự giáo dục về tâm hồn và trí tuệ - và nội hàm này giống như quan niệm văn trị giáo hóa - dùng văn đức rồi mới dùng vũ lực của Lưu Hướng thời Tây Hán, Trung Quốc (năm 77-76 TCN). Từ góc độ xã hội học và nhân loại học, văn hóa được coi là mọi thứ vốn có trong đời sống con người. Theo nhà nhân chủng học người Anh Edward B.Tylor, ―văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm kiến thức, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội‖ [40, tr.
Nhà truyền bá học người Mỹ Jim Rogers thì cho rằng, ―văn hóa là tổng hòa hội tụ phương thức sống, trong đó bao gồm các quy tắc sống, niềm tin, quan niệm giá trị, thế giới quan và các sản phẩm mang ý nghĩa tượng trưng và mang hàm nghĩa văn hóa‖ [12, tr. Như vậy, mọi thứ sản sinh trong đời sống con người, kể cả yếu tố vật chất và tinh thần, đều có thể được xem là văn hóa. Cũng với góc nhìn này, Tổ chức Văn hóa – Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) định nghĩa về văn hóa như sau: ―Theo nghĩa rộng nhất, ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các tính chất đặc biệt về tâm hồn, thể chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn hóa mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng‖.
Từ góc độ quan hệ quốc tế, David Winters định nghĩa: ―Văn hóa chính là tri thức chung của xã hội. Tri thức chung của xã hội là tri thức chung giữa các cá thể và cùng liên hệ với nhau. Cái chung ở đây là cái chung về mặt ý nghĩa xã hội. Cái chung đó có thể là tính chất hợp tác, cũng có thể là tính chất xung đột.
Cùng là kẻ thù của nhau và cùng là bạn bè của nhau đều là sự thực văn hóa‖ [72, tr. Học 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giả người Mỹ Huntington lại nói về khái niệm văn hóa thông qua quan hệ giữa văn hóa và văn minh khi bàn về sự xung đột giữa các nền văn minh trên thế giới. Theo ông, ―văn minh và văn hóa đều liên quan tới toàn bộ phương thức sống của một dân tộc, văn minh là sự phóng đại của văn hóa. Chúng đều bao gồm mô hình tư duy của giá trị, quy tắc, thể chế và tính quan trọng hàng đầu được trao qua nhiều thế hệ trong một xã hội đã định‖ [7, tr.
Thông qua việc nghiên cứu một số định nghĩa về văn hóa nêu trên, có thể thấy văn hóa là một khái niệm tổng hợp, bao gồm trong đó cả yếu tố vật chất và tinh thần. Khái niệm văn hóa được khởi nguồn từ hoạt động sống của con người, vì con người và lại tác động ngược lại đời sống con người. Dù xem xét dưới góc độ nào thì văn hóa vẫn có khả năng ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực khác trong đời sống như kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao. Tuy có nội hàm rất rộng và khó có thể xác định được đầy đủ, song về cơ bản, văn hóa luôn gắn liền với một dân tộc cụ thể.
―Văn hóa là linh hồn của một dân tộc, sức mạnh văn hóa được hun đúc từ cuộc sống, khả năng sáng tạo và sức hội tụ của dân tộc, đan xen với các yếu tố chính trị, kinh tế, đời sống xã hội‖ [8, tr. Trong lĩnh vực NGVH, văn hóa được nhìn nhận như là một biện pháp ngoại giao mà một quốc gia sử dụng để thiết lập và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình đối với quốc gia khác. Nói cách khác, văn hóa chính là những giá trị vật chất và tinh thần riêng có của mỗi dân tộc, là ―tài nguyên‖ để mỗi quốc gia thực hiện đường lối đối ngoại của mình một cách ôn hòa. Khái niệm ngoại giao văn hóa Giữa văn hóa và ngoại giao có mối liên hệ mật thiết.
―Ngoại giao mang nội hàm văn hóa sâu sắc.