MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giao thông (GT) - bức tranh hiện thực sống động của quá trình tương tác xã hội. Cùng với những tồn tại tất yếu của xã hội đang phát triển, vấn nạn GT là một dấu chỉ tương tác xã hội đang ngày một xấu đi với nguy cơ sánh ngang các đại dịch, trở thành nỗi ám ảnh thường trực đối với người dân khi tham gia GT tại các đô thị lớn như Hà Nội. Trước những diễn biến phức tạp của thực trạng GT đô thị, sau khi Luật Giao thông đường bộ 2008 (LGTĐB) - có hiệu lực kể từ ngày 01/07/09), Chính Phủ đã ban hành nhiều nghị định, nghị quyết với những giải pháp cấp bách nhằm giảm thiểu, ngăn chặn thiệt hại của vi phạm LGTĐB như: Nghị quyết số 16/2008/NĐ-CP “Về từng bước khắc phục ùn tắc Giao thông tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 88/NQ-CP “Về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm đảm bảo trật tự an toàn giao thông” và mới đây nhất là nghị định số: 71/2012/NĐ-CP “Bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”.
Theo đó, bên cạnh việc tăng nặng hình thức xử phạt đối với các lỗi vi phạm GT, các giải pháp đẩy mạnh giáo dục và tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao ý thức chấp hành LGTĐB được nhấn mạnh hàng đầu. Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của ngành truyền thông, nhờ sự nỗ lực của chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, tổ chức.các hoạt động truyền thông LGTĐB (HĐTTLGTĐB) đã bước đầu hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền và định hướng công chúng, đóng vai trò tích cực trong việc làm giảm tỉ lệ tai nạn giao thông (TNGT) một cách liên tục và đáng kể trong các năm 2009, 2010, 2011 và 9 tháng đầu năm 2012. Theo báo cáo của Ủy ban An toàn Giao Thông Quốc gia (UBATGTQG), 9 tháng đầu năm 2012, cả nước xảy ra 23.619 vụ TNGT, làm chết 6.908 người, bị thương 25. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com So với cùng kỳ năm 2011, giảm 9.502 người chết (-17,86%), giảm 10.634 người bị thương (-29,84%).
Tại Hà Nội, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt từ thay đổi giờ học giờ làm, xây cầu vượt nhẹ, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình GT, tổ chức lại GT, đưa vào sử dụng các công trình như Vành đai III, QL32, cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; chấn chỉnh các điểm trông giữ xe, cấm taxi ở một số tuyến phố giờ cao điểm, phân luồng GT tại 76 vị trí có nguy cơ ùn tắc; triển khai các tổ công tác 141, 142 của Công an thành phố… tình hình trật tự an toàn GT (TTATGT) ở Thủ đô đã chuyển biến rõ nét. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông (ATGT) đã được triển khai tới các khu dân cư, trường học thông qua các tổ chức, đoàn thể cũng góp phần làm giảm TNGT cả 3 tiêu chí. Ùn tắc giao thông (UTGT) giảm tới 46% so với thời điểm cuối năm 2010. Các chiến dịch truyền thông như “Hãy đội MBH” (MBH), “Đã uống rượu, bia thì không lái xe” đã được đông đảo người dân chú ý và hưởng ứng, thực hiện.
Mặc dù vậy, trong điều kiện cơ sở vật chất GT còn nhiều bất cập, quỹ đất dành cho GT chưa đáp ứng đủ nhu cầu thì cần làm tốt hơn nữa hoạt động truyển thông Luật Giao thông đường bộ (HĐTTLGTĐB), nâng cao ý thức chấp hành Luật GT của người dân, góp phần làm đẹp cho bức tranh GT của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng HĐTTLGTĐB trên địa bàn Hà Nội, góp phần làm sáng rõ nguyên nhân, vai trò của các yếu tố, cơ chế tâm lý trong HĐTTLGTĐB; đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông, góp phần mang lại những chuyển biến tích cực hơn nữa trong nhận thức và hành vi chấp hành LGTĐB của người dân thành phố, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Hoạt động truyển thông Luật Giao thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân và các yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới HĐTTLGTĐB trên địa bàn Hà Nội. Dựa trên kết quả nghiên cứu thu được, đưa ra một số kiến nghị đối với 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nhà tổ chức, quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động này, nâng cao nhận thức, hành vi chấp hành LGTĐB của người dân Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu 3. Phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến HĐTTLGTĐB nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Xây dựng các khái niệm công cụ của đề tài và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của HĐTTLGTĐB.2 Nghiên cứu thực trạng và làm rõ nguyên nhân, các yếu tố tác động đến HĐTTLGTĐB trên địa bàn Hà Nội.3 Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của HĐTTLGTĐB. Đối tƣợng nghiên cứu.
Hoạt động truyền thông Luật Giao thông đường bộ thông qua nội dung, hình thức và hiệu quả tâm lý của hoạt động này, chủ yếu trên truyền hình và panô, áp phích, và biển quảng cáo (BQC). Giới hạn phạm vi nghiên cứu: 5. Giới hạn về mặt nội dung: Đề tài này chỉ đề cập tới thực trạng và nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng của HĐTTLGTĐB tại địa bàn Hà Nội; trong đó tập trung phản ánh thực trạng và nguyên nhân của hoạt động truyền thông trên truyền hình và panô, áp phích, BQC; chỉ ra một số tác động tâm lý của hoạt động này tới hành vi khi tham gia GT của người dân Hà Nội. Giới hạn về không gian, địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 5 quận có những nút GT trọng điểm, thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc, vi phạm LGTĐB và TNGT của Hà Nội: Quận Long Biên, Quận Hai Bà Trưng, Quận Đống Đa, Quận Hoàn Kiếm, Quận Cầu Giấy.
Khách thể nghiên cứu: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề tài được tiến hành với 200 người dân có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, hiện đang sinh sống, học tập, làm việc tại Hà Nội. Giả thuyết nghiên cứu. Nhìn chung, HĐTTLGTĐB được tiến hành khá phong phú và đa dạng trên địa bàn Hà Nội, đã thu hút được sự chú ý của người dân, trong đó truyền hình và panô, áp phích, BQC là các phương tiện phổ biến và hiệu quả nhất. HĐTTLGTĐB còn mang nặng tính thông báo một chiều, thiếu tính tương tác nên hiệu quả còn chưa cao.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới HĐTTLGTĐB, trong đó nội dung thông điệp tuyên truyền tác động mạnh nhất đến tâm lý của người dân. Phƣơng pháp nghiên cứu. Phương pháp phân tích tài liệu, văn bản: Đọc và phân tích các tài liệu, sách báo, và các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học trong và ngoài nước, các tài liệu liên quan đến các khái niệm công cụ, thực trạng truyền thông LGTĐB; các hình thức truyền thông trên truyền hình, panô, áp phích, BQC của chiến dịch truyền thông ATGT, các yếu tố ảnh hưởng… để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát không có sự can thiệp nhằm thu thập thông tin cho đề tài thông qua việc quan sát các hình thức truyền thông LGTĐB; quan sát thái độ, các hành động phi ngôn ngữ của khách thể…nhằm kiểm định và bổ sung thông tin trong quá trình điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu.
Phương pháp điều tra viết bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài, nhằm tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân và các yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới HĐTTLGTĐB trên địa bàn Hà Nội. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phương pháp phỏng vấn sâu: Nhằm thu thập những thông tin cho vấn đề nghiên cứu, thực hiện phỏng vấn sâu một số người dân, cán bộ cảnh sát GT, nhà hoạt động truyền thông … để thu thập, bổ sung thông tin, làm sáng tỏ các vấn đề và góp phần khẳng định các kết quả thu được từ phương pháp điều tra. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học: Sử dụng phương pháp xử lý số liệu SPSS phiên bản 16.0 để xử lý số liệu thu được từ các số liệu quan sát và điều tra ý kiến bằng bảng hỏi đã nhận được nhằm mục đích khẳng định các kết quả nghiên cứu của đề tài.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG LUẬT GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu hoạt động truyền thông và hoạt động truyền thông về giao thông 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Trong lịch sử thế giới, trước khi có các phương tiện truyền thông đại chúng, mỗi dân tộc đều đã sáng tạo ra những phương thức truyền thông riêng của mình để đáp ứng nhu cầu truyền đạt thông tin trong xã hội. Ngay từ buổi đầu lịch sử, việc trao đổi hàng hoá luôn gắn liền với hoạt động truyền thông bằng miệng nhằm quảng cáo hàng của những người thợ thủ công, người buôn bán và các các phường hội và sự thôi thúc truyền thông dường như đã trở thành một bộ phận của bản tính con người.
Trong nửa đầu thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, dựa trên nhiều phát minh kỹ thuật khác nhau, các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, điện ảnh, đài phát thanh và đài truyền hình lần lượt ra đời. Trong những thập niên đầu thế kỷ này, các nhà tâm lý học như Scoott W. (Pháp); Moede W (Đức); Fraser L (Anh); Gallo S (Italia) đã đặc biệt quan tâm tới tâm thế xã hội và đánh giá xã hội của con người trong hoạt động truyền thông. Đây cũng là giai đoạn mà giới học thuật quan niệm rằng các phương tiện truyền thông có một sức tác động to lớn lên trên lối ứng xử và suy nghĩ của người dân, biến các cá nhân thành “những khối đại chúng”.
Khoảng năm 1940 tới đầu những năm 1960, một số công trình điều tra ở Mỹ về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đối với việc bầu cử và đối với sự chọn lựa của người dân đã kết luận truyền thông đại chúng ít có hoặc thậm chí không có tác động trực tiếp đối với thái độ và ứng xử của người dân.