Chương 1: Những thành tựu và hạn chế của các doanh nghiệp nhà nước và quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam. Chương 2: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ QUẤ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về công ty cổ phần và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc Từ nửa cuối thế kỉ XIX trong lòng chủ nghĩa tư bản với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đang thống trị đã bắt đầu xuất hiện một loại hình xí nghiệp mới - xí nghiệp cổ phần hay công ty cổ phần, mà sở hữu trong đó là của các cổ đông.
Trong tập III Bộ “ Tư bản” [37] Mác và Ăng-ghen đã tiên đoán về hai khuynh hướng quan trọng của sự xuất hiện các công ty cổ phần trong xã hội tư sản : Thứ nhất, dưới chủ nghĩa tư bản, C.Mác chỉ ra rằng công ty cổ phần ra đời là sự manh nha của một hình thức sản xuất mới, sẽ đưa đến việc lập ra chế độ độc quyền và đưa đến sự can thiệp của nhà nước tư sản. Khi xuất bản tác phẩm này (1894) Ph. Ăng-ghen có bổ sung thêm một số ý như: Các-ten ra đời xoá bỏ tự do cạnh tranh. Trong một số ngành mà trình độ sản xuất cho phép làm được, người ta đi đến tập hợp toàn bộ sản xuất của ngành đó vào một công ty cổ phần lớn duy nhất có một sự lãnh đạo thống nhất ( ví dụ, sản xuất a-mô-ni-ắc của cả nước Anh vào tay một hãng duy nhất, tư bản lưu động được đưa ra mời công chúng góp).
Chính trong quá trình này sẽ phát sinh ra một loại ăn bám mới,- “quí tộc tài chính” mới và cả một hệ thống “lừa đảo” và “bịp bợm” về việc sáng lập, phát hành và buôn bán cổ phiếu. Sự xuất hiện công ty cổ phần lần đầu tiên trong lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm cho quyền sở hữu tư bản hoàn toàn tách rời 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với chức năng của tư bản trong quá trình tái sản xuất thực tế. Tiền công lao động của người quản lý cộng với lợi nhuận doanh nghiệp về tay nhà tư bản cổ phần, tức là các cổ đông, được thu về dưới dạng lợi tức cổ phần.Thực chất đây là tiền thù lao trả cho quyền sở hữu tư bản, biến những người sở hữu tư bản thành những người sở hữu thuần tuý, nghĩa là những nhà tư bản - tiền tệ thuần tuý. Những đặc điểm cổ điển của nhà tư bản đã được biến đổi thành một người chỉ giản đơn điều khiển và quản lý tư bản của những người khác.
Thứ hai, xuất hiện những tiền đề thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở ngay trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các công ty cổ phần là điểm quá độ để biến tất cả các chức năng của quá trình tái sản xuất hiện còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản đơn giản thành những chức năng của những người sản xuất liên hiệp, tức là thành những chức năng xã hội. Công ty cổ phần ra đời là sự thủ tiêu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngay trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở đó, xuất hiện mâu thuẫn tự nó lại thủ tiêu nó và đây chính là giai đoạn quá độ sang một phương thức sản xuất mới: “ một phương thức sản xuất mới này phải nảy ra và phát triển trên cơ sở một phương thức sản xuất cũ”[38].Mác, chính bản thân những công ty cổ phần của công nhân như là một loại nhà máy hợp tác, và đây chính là một lỗ thủng đầu tiên trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Sự đối kháng giữa lao động làm thuê và chủ tư bản đã được xoá bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó; mặc dầu ban đầu nó chỉ được xóa bỏ bằng cách biến những người lao động liên hiệp thành những “nhà tư bản” với chính bản thân mình. Nghĩa là cho họ“ có thể dùng tư liệu sản xuất để bóc lột lao động của chính họ”. Thực chất của quá trình hình thành các công ty cổ phần là sản xuất tư nhân không còn có sự kiểm soát của quyền sở hữu tư nhân. Những tư 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liệu sản xuất này sẽ không còn là tư liệu và sản phẩm của nền sản xuất tư nhân nữa, mà sẽ chỉ có thể là tư liệu sản xuất trong tay những người sản xuất liên hiệp, tức là chỉ có thể là sở hữu xã hội của họ, cũng như chúng là sản xuất xã hội của họ.
Mác đã nhận xét: "Trong các CTCP, chức năng tư bản tách rời quyền sở hữu tư bản; và do đó lao động cũng vậy, nó hoàn toàn tách rời với quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và về lao động thặng dư. Đó là kết quả của sự phát triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyển thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách là sở hữu của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp" [38, tr. Cả hai khuynh hướng trên, tức là những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, cũng như những nhà máy hợp tác, theo C.Mác, đều phải được coi là những hình thái qua độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể. Nhưng điểm khác nhau căn bản giữa hai khuynh hướng trên là trong xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn được giải quyết một cách tiêu cực, còn trong những nhà máy hợp tác, mâu thuẫn được giải quyết một cách tích cực.Mác cũng đã đề cập đến các xí nghiệp của các nhà nước tư sản cũng có thể trở thành các công ty cổ phần để tăng thêm quy mô sản xuất của chúng.
Vì rằng, công ty cổ phần ra đời đã làm cho quy mô sản xuất có thể được tăng lên, mở rộng một cách to lớn, đến nỗi những tư bản riêng lẻ không thể làm nổi. Ngay cả những xí nghiệp của nhà nước (của chính phủ) cũng được tổ chức thành công ty cổ phần, tham gia vào công ty cổ phần. Trong quá trình phát triển lịch sử của chủ nghĩa tư bản, do những điều chỉnh thích nghi để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, cố gắng duy trì sự tồn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tại của chủ nghĩa tư bản trên thế giới nên khuynh hướng thứ nhất đã trở nên mạnh mẽ hơn. Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh đã chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc.Lê-nin, các hình thức của công ty cổ phần ít được bàn đến, ngay cả trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới.
Quá trình này, V.Lê-nin đã đề cập rất nhiều đến CNTB độc quyền Nhà nước và sự vận dụng sáng tạo trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước Nga (thành phần kinh tế CNTB nhà nước).Lê-nin cho rằng, việc nhà nước Xô- viết có thể chỉ cần nắm khoảng 25% cổ phần là có thể chi phối được các cổ đông tư nhân khác trong các xí nghiệp thuộc thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Một luận điểm rất đáng lưu ý của V.Lê-nin những năm 20 của thế kỷ XX về các hình thức hợp tác xã được thể hiện trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác xã” là dưới CNTB tư nhân, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp TBCN, cũng như xí nghiệp tập thể khác với xí nghiệp tư nhân. Dưới CNTB Nhà nước, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp TB Nhà nước, trước hết ở chỗ nó là xí nghiệp tư nhân, sau nữa ở chỗ nó là xí nghiệp tập thể. Dưới chế độ hiện nay của chúng ta, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp TB tư nhân ở chỗ nó là xí nghiệp tập thể, nhưng nó không khác với xí nghiệp XHCN, nếu miếng đất trên đó nó được xây dựng và những tư liệu sản xuất đều thuộc về Nhà nước, nghĩa là về giai cấp công nhân [39].
Như vậy, chứng tỏ sự xuất hiện công ty cổ phần về mặt lịch sử là bước tiến từ sở hữu tư nhân lên sở hữu tập thể của các cổ đông. Còn ở nước ta, việc thiết lập mới các công ty cổ phần hay Cổ phần hoá một số doanh nghiệp Nhà nước hiện nay không phải là tư nhân hoá mà là sự hình thành các doanh nghiệp đa sở hữu cho mọi thành phần kinh tế có thể tham gia, hợp tác cùng chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro thị trường và cùng hưởng lợi trong điều kiện có Đảng Cộng sản lãnh đạo, Nhà nước XHCN quản lý. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở nước ta, ngoài quá trình hình thành các công ty cổ phần từ những cổ đông là các chủ sở hữu vốn tư nhân lập nên theo Luật Doanh nghiệp, thì quá trình Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước, - một bộ phận rất quan trọng các công ty cổ phần được hình thành từ những Doanh nghiệp Nhà nước có chế độ sở hữu của toàn dân mà người đại diện cho chủ sở hữu toàn dân đó là Nhà nước. Chủ trương của Đảng về việc triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước từ ĐHVIII của Đảng đã khẳng định cổ phần hoá “…không phải để tư nhân hoá”.
Thế nhưng, chính sự khác nhau về quá trình dẫn đến sự hình thành các Công ty cổ phần theo trình tự khách quan và trong thực tiễn cải cách doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đã làm cho không ít người (kể cả trong và ngoài nước) lầm tưởng rằng, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là tư nhân hoá. Những nhận thức như vậy, cùng với những vướng mắc và thiếu sót, lệch lạc trong quá trình cổ phần hoá đang có tác động không thuận đến quá trình tiến hành cổ phần hoá trên thực tế với các biểu hiện như sau: Việc bán cổ phần thiếu công khai, minh bạch còn khép kín trong nội bộ doanh nghiệp ở một số trường hợp đã dẫn tới những yếu kém của doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa và chậm được khắc phục.