PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngƣời khuyết tật là một bộ phận không nhỏ của dân số Thế giới, trong bất kỳ một xã hội nào dù phát triển hay kém phát triển, dù phải hứng chịu chiến tranh hay không phải trải qua chiến tranh cũng tồn tại một bộ phận ngƣời khuyết tật. Việt Nam có tỷ lệ ngƣời khuyết tật khá cao so với tỷ lệ chung của toàn Thế giới. Theo con số của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội, tính đến tháng 6 năm 2015, Việt Nam có khoảng 7 triệu ngƣời khuyết tật, chiếm 7.8% dân số, ngƣời khuyết tật đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28.9%, khoảng 58% ngƣời khuyết tật là nữ, 28.3% ngƣời khuyết tật là trẻ em, 10.2% ngƣời khuyết tật là ngƣời cao tuổi, khoảng 10% ngƣời khuyết tật thuộc hộ nghèo [37].
Ngƣời khuyết tật luôn đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc ta cùng một số tổ chức quốc tế. Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều hệ thống văn bản cùng với việc thực hiện các công ƣớc Quốc tế về ngƣời khuyết tật nhằm giúp đỡ họ có cuộc sống tốt, tạo cơ hội giúp họ hoà nhập với cộng đồng và phát triển nhƣ những ngƣời bình thƣờng khác. Trẻ em là chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc “Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai” chính vì vậy trẻ em chiếm giữ một vị trí rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Hàng năm có tới hàng triệu trẻ em đƣợc sinh ra trên Thế giới.
Trẻ em đƣợc sinh ra và lớn lên trong những điều kiện và đặc điểm của mỗi gia đình, cộng đồng đa dạng và không giống nhau. Có những đứa trẻ đƣợc lớn lên trong sự quan tâm, chăm sóc yêu thƣơng của cha mẹ thì đâu đó còn một số lƣợng không nhỏ các em đang chịu thiệt thòi về vật chất cũng nhƣ tinh thần trong đó phải kể đến trẻ khuyết tật. Ở Việt Nam, hiện có nhiều mô hình và các hoạt động trợ giúp cho trẻ khuyết tật trong đó có nhiều mô hình và hoạt động của công tác xã hội. Tuy nhiên, trẻ khuyết tật vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội nhƣ dịch vụ y tế, giáo dục, giải trí, hòa nhập cộng đồng… Những khó khăn này đã 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hạn chế sự phát triển của trẻ khuyết tật, khiến các em ngày càng bị đẩy lùi ra khỏi sự phát triển của xã hội.
Với vai trò của một nhân viên công tác xã hội, trong quá trình làm việc chúng ta thƣờng xuyên phải tiếp cận và trợ giúp nhóm trẻ khuyết tật. Chính vì vậy tác giả nghiên cứu đề tài “Hoạt động công tác xã hội tại Trường Phục hồi chức năng và Dạy nghề cho người khuyết tật Khoái Châu tỉnh Hưng Yên”. Nhằm tìm hiểu, nghiên cứu các hoạt động của CTXH trong quá trình học tập, sinh hoạt của trẻ tại trƣờng. Từ đó đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động hỗ trợ trẻ khuyết tật.
Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Các nghiên cứu trên Thế giới Trên Thế giới có các nghiên cứu về trẻ khuyết tật với những nhóm ngƣời và trẻ khuyết tật khác nhau, trong đó có nhiều nghiên cứu về các hoạt động trợ giúp ngƣời khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng, đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Nghiên cứu “Supporting Families including children with disabilities” đƣợc dịch là “Hỗ trợ g a đìn bao gồm trẻ em k uyết tật” năm 2008 của hai tiến sỹ Eileen Brennan và Julie M. Rosenzweig, đã nhấn mạnh đến việc chăm sóc trẻ có nhu cầu đặc biệt trong các gia đình tại Mỹ.
Tại đây nghiên cứu đã đƣa ra những số liệu về nhóm trẻ khuyết tật có nhu cầu chăm sóc đặc biệt, sự khó khăn của trẻ trong vấn đề hòa nhập và học tập, sự khó khăn của cha mẹ về thời gian, tài chính, áp lực xã hội khi chăm sóc con cái là trẻ khuyết tật, những rào cản ngăn trở sự phát triển hòa nhập của trẻ. Nghiên cứu này giúp chúng ta có thể so sánh những khó khăn trong vấn đề hòa nhập của trẻ khuyết tật và khó khăn của gia đình trong chăm sóc trẻ khuyết tật ở Việt Nam [30]. Nghiên cứu “Disability and social inclusion in Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011” Đƣợc dịch là “K uyết tật òa n ập xã ộ ở Ireland, Brenda Gannon v Br an Nolan, 2011”. Nghiên cứu đã xem xét ngƣời khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn khi hòa nhập xã hội, trong nghiên cứu đã thu thập trình độ học vấn, kinh tế và tham gia xã hội….
Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra mặc cảm, tự ti là là 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một trong những yếu tố cản trở ngƣời khuyết tật tham gia hòa nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày. Báo cáo còn chỉ ra sự khác biệt giữa ngƣời khuyết tật và ngƣời không khuyết tật trong việc tham gia hòa nhập cộng đồng. Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập đƣợc để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm…của ngƣời khuyết tật. Nghiên cứu còn nhấn mạnh đến yếu tố ngƣời khuyết tật ảnh hƣởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự kì thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phƣơng tiện đi lại gây khó khăn cho ngƣời khuyết tật…[29].
Nghiên cứu “The inclusion of children with a disability in child care: The influence of experience, trainig and attitudes ofchildcare staff” dịch là “Vấn đề òa n ập trẻ em k uyết tật trong v ệc c ăm sóc trẻ: n ững n ưởng từ k n ng ệm, quá trìn tập uấn, v t á độ của độ ngũ đ m n ận c ăm sóc trẻ” của Heather Mohay, Emma Reid, Queensland University of Technology, Úc năm 2013 đã điều tra các mối quan hệ giữa thái độ đối với ngƣời khuyết tật, đào tạo, kinh nghiệm và ảnh hƣởng của mỗi khách thể ghi danh trong chăm sóc trẻ em đối với trẻ khuyết tật [32]. Dựa vào công cụ nghiên cứu, các chỉ số về rảo cản hòa nhập, kinh nghiệm, đào tạo, thái độ đã cho kết quả nhƣ sau: Các kết quả nghiên cứu đã tập trung phân tích những khó khăn trẻ khuyết tật gặp phải trong quá trình sinh hoạt, học tập và hòa nhập cộng đồng; những vấn đề về tâm lý, những khó khăn cho gia đình trong việc chăm sóc trẻ. Kết quả nghiên cứu trên vừa là cơ sở khoa học để tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu và phát triển đề tài của mình nghiên cứu trẻ khuyết tật sinh sống, học tập trong một môi trƣờng cụ thể. Các nghiên cứu tại Việt Nam Nghiên cứu về trẻ khuyết tật nói chung và CTXH với trẻ khuyết tật nói riêng ở Việt Nam hầu nhƣ mới chỉ đƣợc bắt đầu vào khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ XX.
Từ năm 2000 trở lại đây, vấn đề trẻ khuyết tật đã đƣợc nhiều ngành quan tâm nghiên cứu nhƣ tâm lý học, giáo dục học, y học…. Một loạt các trung tâm nuôi dƣỡng trẻ khuyết tật ra đời, các bệnh viện mở ra các khoa để can thiệp cho trẻ khuyết tật, các 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣờng học mở ra các lớp chăm sóc – giáo dục trẻ khuyết tật là những điều kiện thuận lợi cho ra đời các nghiên cứu. Nghiên cứu “Ngườ k uyết tật ở V ệt Nam: Một số kết qu c ủ yếu từ tổng đ ều tra D n số v N ở năm 2009” do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung Ƣơng công bố đã cho thấy tỷ lệ khuyết tật thị giác là lớn nhất tiếp đó là khuyết tật vận động và tập trung nghi nhớ. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự thiệt thòi của ngƣời khuyết tật về mọi mặt nhƣ trong giáo dục tỷ lệ ngƣời khuyết tật trƣởng thành không biết đọc, biết viết cao hơn ngƣời không khuyết tật trƣởng thành, khác biệt này càng lớn khi mức độ khuyết tật càng nặng.
Tƣơng tự tỷ lệ biết đọc, biết viết của thanh thiếu niên không khuyết tật cao hơn đáng kể so với thanh thiếu niên khuyết tật. Trong việc tham gia lực lƣợng lao động và việc làm, ngƣời khuyết tật có tỷ lệ tham gia lực lƣợng lao động và việc làm thấp hơn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với ngƣời không khuyết tật. Nghiên cứu cũng đã đề xuất những chính sách, giải pháp nhằm giải quyết những nhu cầu thực tiễn của ngƣời khuyết tật trong các vấn đề: Sức khỏe, y tế, việc làm, giáo dục, văn hóa… tạo điều kiện cho ngƣời khuyết tật hòa nhập cộng đồng [44]. Nghiên cứu cho chúng ta thấy đƣợc cái nhìn tổng thể về đào tạo nghề và việc làm cho ngƣời khuyết tật là “Báo cáo k o sát về đ o tạo ng ề v v ệc l m c o ngườ k uyết tật tạ V ệt Nam” đƣợc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố năm 2010 đã cung cấp một cách nhìn tổng thể về các tổ chức đại diện cho ngƣời khuyết tật và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho ngƣời khuyết tật, đặc biệt tập trung vào các tổ chức của nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật.
Các tổ chức trong và ngoài nƣớc nhận thấy việc đào tạo nghề và các dịch vụ cung cấp việc làm cho ngƣời khuyết tật là rất quan trọng. Vì vậy báo cáo đề xuất Chính phủ cần có những chính sách riêng khuyến khích các cơ sở đào tạo nghề cho ngƣời khuyết tật. Báo cáo cũng nêu lên thực trạng, hiện nay cũng có một số trung tâm dạy nghề dành riêng cho ngƣời khuyết tật đƣợc thành lập, nhƣng chỉ phục vụ các khu vực thành thị, khu vực nông thôn việc tiếp cận dịch vụ đào tạo nghề cho ngƣời khuyết tật rất bị hạn chế. Các dịch vụ cung cấp việc làm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thƣờng gắn liền với cơ sở đào tạo nghề.
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đƣợc cung cấp việc làm còn khá thấp và phần lớn các học sinh tốt nghiệp chủ yếu tìm đƣợc việc làm tại cơ sở dành riêng cho ngƣời khuyết tật chứ không phải các doanh nghiệp thông thƣờng [39]. Một nghiên cứu đáng lƣu ý là công trình nghiên cứu “P n tíc các n n tố n ưởng đến c ất lượng đ o tạo ng ề c o ngườ k uyết tật trên địa b n t n p ố Đ Nẵng” của nhóm tác giả: Huỳnh Viết Thiên Ân, Nguyễn Thị Thanh Tâm đƣợc công bố vào năm 2012 trong tuyển tập báo cáo hội sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng.