CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm cho vay đối với khách hàng cá nhân Theo Lê Thị Tuyết Hoa – Nguyễn Thị Nhung (2009) : “ Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị ( dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định”. [03] Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và sửa đổi bổ sung số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 cũng quy định: Tại Khoản 14, Điều 4 quy định : “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác”. [16] Tại Khoản 16, Điều 4 quy định “ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi” [16] Tại Khoản 4, Điều 4 quy định: “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [16] Trong phạm vi của luận văn này, cho vay KHCN là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người giao hoặc cam kết giao cho KHCN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.2 Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các Ngân hàng thương mại Đối tượng vay vốn z 9 Đối tượng vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển, hoặc các cá nhân có nhu cầu vay vốn để tiêu dùng (Nguyễn Văn Tiến 2019). Quy mô và số lượng các khoản vay Cho vay cá nhân thường phục vụ cho hai mục đích chủ yếu: phục vụ nhu cầu đời sống và bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Số tiền cho vay thường bị giới hạn bởi các điều kiện cấp tín dụng của ngân hàng. Do đó, các khoản vay của KHCN tại các NHTM thường có quy mô nhỏ và số lượng các khoản vay của KHCN thường lớn. Ở các NHTM hoạt động theo định hướng ngân hàng bán lẻ thì số lượng các khoản vay KHCN là rất lớn và do đó giúp ngân hàng phân tán được rủi ro. Tuy nhiên khoản vay của KHCN vẫn còn ẩn chứa rủi ro tiềm ẩn vì tình hình tài chính của KHCN thường xuyên thay đổi theo theo tình trạng công việc và sức khỏe của khách hàng đi vay.
Tình hình tài chính của khách hàng xấu đi khiến ngân hàng phải đối mặt với những nguy cơ khó thu hồi vốn. Lãi suất cho vay Lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất cho vay KHDN. Có hai nguyên nhân chính khiến lãi suất cho vay KHCN chênh lệch với lãi suất cho vay KHDN là chi phí bình quân và rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Cho vay KHCN thường có chi phí bình quân cao hơn : Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng nhiều và độ phân tán rộng, do đó để phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân sẽ tốn nhiều chi phí như: Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, marketing … nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng KHCN ở từng địa bàn, khu vực.
Phát triển nhân sự chất lượng nhằm phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác và kịp thời. Các chi phí liên quan như: Chi phí quản lý, văn phòng, điện nước, điện thoại, công tác phí… z 10 Quy mô từng món vay nhỏ, nhưng số lượng các vón vay lớn trong khi chi phí để thực hiện một món vay cá nhân không chênh lệch nhiều với một khoản vay doanh nghiệp có quy mô lớn. Vì vậy chi phí bình quân mà ngân hàng phải chịu cao hơn cho vay KHDN. Cho vay KHCN thường có rủi ro cao hơn Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng cá nhân thường không có độ xác thực và không đầy đủ so với khách hàng doanh nghiệp, do đó gây khó khăn trong quá trình thẩm định, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, đây cũng là yếu tố làm tăng rủi ro trong hoạt động cho vay KHCN.
Nguồn trả nợ của khách hàng đến từ nguồn thu nhập thường xuyên của khách hàng. Do nguồn trả nợ của khách hàng phụ thuộc vào quá trình làm việc, kinh nghiệm hay những rủi ro như sức khỏe, mất việc … dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay KHCN. Hồ sơ vay vốn và thẩm định hồ sơ vay Hồ sơ vay vốn đối với khoản vay dành cho KHCN thường đơn giản và gọn nhẹ hơn nhiều so với hồ sơ vay vốn của KHDN. Phát sinh từ tình hình thực tiễn tại Việt Nam hiện nay, KHCN không có hệ thống báo cáo tài chính chuẩn mực, mua bán hầu hết dựa trên tự theo dõi thủ công bằng sổ tay, file tính, hóa đơn… Rất khó để có thể yêu cầu KHCN cung cấp các tài liệu chứng minh hồ sơ thu nhập, phương án, đầu vào, đầu ra.
Vì việc mua bán của nhóm KHCN thường dựa trên niềm tin, lấy chữ tín làm đầu, rất ít khi kí hợp đồng hay xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Những vấn đề này khiến nhiều ngân hàng phải yêu cầu khoản vay phải được đảm bảo toàn bộ bằng tài sản để hạn chế rủi ro xảy ra. Thẩm định KHCN thường không phức tạp bằng việc thẩm định KHDN, tuy nhiên khi thẩm định lại phải phụ thuộc vào nhiều kinh nghiệm và đánh giá của cán bộ thẩm định. Từ đó phải là người có chuyên môn cao, được đào tạo bài bản và có thể đưa ra những yếu tố đánh giá khách hàng một cách khách quan nhất.
z 11 Thời hạn cho vay của các khoản vay KHCN có thể là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, tùy thuộc vào mục đích vay vốn và hình thức vay vốn. Đối với các khoản vay phục vụ vốn lưu động đưa vào sản xuất kinh doanh, thường có thời hạn ngắn hạn. Còn đối với các khoản vay phụ vụ nhu cầu đời sống thì thường dài hạn và phụ thuộc vào khả năng đáp ứng trả nợ của KHCN đó.3 Phân loại cho vay Khách hàng cá nhân 1.1 Dựa vào mục đích cho vay - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là hình thức cấp tín dụng cho các hộ kinh doanh cá thể để tiến hành mở rộng sản xuất hay bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. - Cho vay phục vụ tiêu dùng cá nhân : Là khoản cho vay KHCN, hộ gia đình để phục vụ nhu cầu đời sống như mua nhà, xây sửa nhà, mua xe, mua trang thiết bị gia đình….2 Dựa vào thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: Là khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
Mục đích vay thường để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu tiêu dùng phục vụ nhu cầu đời sống ngắn hạn khác của cá nhân. - Cho vay trung hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến dưới 60 tháng. Mục đích cho vay để sản xuất kinh doanh và tiêu dùng có thời hạn thu hồi vốn nhanh như bổ sung vốn lưu động đối với những ngành nghề có vòng quay vốn lưu động trên 12 tháng, đầu tư vào tài sản cố định như xây dựng địa điểm kinh doanh, mua máy móc, phương tiện vận tải và phục vụ nhu cầu đời sống. - Cho vay dài hạn: Là khoản cho vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên.
Mục đích vay vốn thường là dự án đầu tư hoặc tiêu cùng có thời hạn thu hồi vốn dài hạn như mua nhà, đất, xây dựng, sửa chữa nhà ở.3 Dựa vào hình thức bảo đảm tiền vay - Cho vay không có tài sản bảo đảm / đảm bảo một phần bằng tài sản: Là loại hình cho vay dựa trên uy tín của chính khách hàng đi vay, hiệu quả kinh tế z 12 và khả năng trả nợ của khách hàng phát sinh từ dòng tiền của phương án/ dự án vay, thu nhập khác đủ đảm bảo cho phương án vay. Các NHTM có quyền chủ động và chịu trách nhiệm trong việc thẩm định, lựa chọn khách hàng uy, có lịch sử quan hệ lâu dài, thường xuyên với Ngân hàng. Ngoài ra phương án vay vốn phải thực sự khả thi, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn và phải có cam kết với Ngân hàng bằng các ràng buộc khác khi kí kết Hợp đồng cho vay. - Cho vay có bảo đảm đầy đủ bằng tài sản: Ngân hàng đồng ý cho vay với điều kiện đảm bảo bằng đầy đủ tài sản được pháp luật quy định trong bộ luật dân sự như cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bên thứ ba… 1.4 Theo phương thức cấp tín dụng - Cho vay từng lần: Là hoạt động cho vay mà những khoản vay độc lập với nhau, mỗi lần đồng ý cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng kí một thỏa thuận cho vay riêng biệt.
- Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng tham gia hành động cấp tín dụng đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. Loại hình cho vay này được áp dụng với những khoản vay có mức cấp tín dụng lớn, rủi ro cao nhằm phân tán rủi ro cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay. - Cho vay lưu vụ: Là hoạt động cấp tín dụng trong đó tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với mảng khách hàng nuôi trồng, chăm sóc, các loại cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất kinh doanh. Chu kỳ sản xuất có thể liền kề trong năm hoặc thu hoạch định kì hàng năm tùy thuộc vào loại hình kinh doanh.
- Cho vay theo hạn mức : tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một hạn mức cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.