Chương 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp. Sinh viên: Vũ Hiền Trang Lớp: QTL603K 1 MSV : 1213401053 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty cổ phần xây lắp điện Duyên Hải. Chương 3: Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty cổ phần xây lắp điện Duyên Hải. Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn đến GV- THs.Trần Thị Thanh Thảo cùng cô chú cán bộ phòng kế toán Công ty cổ phần xây lắp điện Duyên Hải đã tận tình hƣớng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Tuy nhiên, do phạm vi đề tài rộng, thời gian thực tế chƣa nhiều nên bài viết của em khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong sự góp ý cũng nhƣ sự chỉ bảo thêm của các thầy cô cũng nhƣ các anh chị trong phòng kế toán của công ty để em có điều kiện bổ sung nâng cao kiến thức của mình, giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình một cách tốt nhất. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên: Vũ Hiền Trang Lớp: QTL603K 2 MSV : 1213401053 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHƢƠNG 1 1. Tổng quan về vốn bằng tiền 1.Khái niệm vốn bằng tiền Đối với mỗi doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ khi bƣớc và hoạt động sản xuất kinh doanh vấn đề cần thiết là phải có một lƣợng vốn nhất định, trên cơ sở tạo lập vốn kinh doanh của Doanh nghiệp.
Qua mỗi giai đoạn vận động, vốn không ngừng biến đổi cả về hình thái biểu hiện lẫn quy mô. Vốn bằng tiền là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh thuộc tài sản lƣu động của doanh nghiệp đƣợc hình thành chủ yếu trong quá trình bán hàng và trong các quan hệ thanh toán, tồn tại trực tiếp dƣới hình thái tiền tệ bao gồm: tiền mặt (TK 111), tiền gửi Ngân hàng (TK 112) và tiền đang chuyển (TK 113). Đặc điểm vốn bằng tiền Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền vừa đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tƣ, hàng hóa sản xuất kinh doanh, vừa là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ. Chính vì vậy, quy mô vốn bằng tiền là loại vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hết sức chặt chẽ vì vốn bằng tiền có tính luân chuyển cao nên nó là đối tƣợng của sự gian lận.
Vì thế trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền, các thủ tục nhằm bảo vệ vốn bằng tiền khỏi sự ăn cắp và lạm dụng là rất quan trọng, nó đòi hỏi việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc chế độ quản lý tiền tệ thống nhất của Nhà nƣớc.Phân loại vốn bằng tiển Theo hình thức tồn tại vốn bằng tiền của Doanh nghiệp đƣợc chia ra thành các loại sau: Tiền Việt Nam Ngoại tệ Vàng bạc, kim khí quý, đá quý. - Theo hình thái tồn tại vốn bằng tiền đƣợc chia ra thành: Sinh viên: Vũ Hiền Trang Lớp: QTL603K 3 MSV : 1213401053 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Tiền tại quỹ: Gồm giấy bạc Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý, ngân phiếu đang đƣợc giữ tại két của doanh nghiệp, để phục vụ nhu cầu chi tiêu trực tiếp hàng ngày trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiền gửi ngân hàng: Là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý mà doanh nghiệp gửi tại ngân hàng. Tiền đang chuyển: Là tiền trong quá trình vận động từ trạng thái này sang trạng thái khác.
Tiền đang chuyển bao gồm tiền Việt Nam và ngoại tệ của doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng, kho bạc nhƣng chƣa nhận đƣợc giấy báo có của ngân hàng, kho bạc hoặc đã làm thủ tục chuyển tiền qua bƣu điện để thanh toán nhƣng chƣa nhận đƣợc giấy báo của đơn vị đƣợc hƣởng thụ. Doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch thu, chi (ngắn hạn, dài hạn) để có thể duy trì một lƣợng tiền tồn quỹ hợp lý trong quá trình sản xuất kinh doanh.Vai trò và nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền Vai trò của kế toán vốn bằng tiền trong Doanh nghiệp Trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc quản lý và sử dụng vốn là một khâu quan trọng có tính quyết định tới mức độ tăng trƣởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Vốn bằng tiền là đối tƣợng có khả năng phát sinh rủi ro hơn các tài sản khác, vì vậy cần đƣợc quản lý chặt chẽ, thƣờng xuyên kiểm tra, kiểm soát các khoản thu, chi bằng tiền là rất cần thiết. Trong quản lý ngƣời ta sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau nhƣ thống kê, phân tích các hoạt động kinh tế nhƣng kế toán luôn đƣợc coi là công cụ quản lý kinh tế quan trọng nhất.
Với chức năng ghi chép, tính toán, phản ánh, giám sát thƣờng xuyên, liên tục sự biến động của vật tƣ, tiền vốn bằng các thƣớc đo giá trị và hiện vật, kế toán vốn bằng tiền cung cấp các tài liệu cần thiết về thu chi vốn bằng tiền đáp ứng yêu cầu quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền Để thực hiện tốt việc quản lý vốn bằng tiền, với vai trò công cụ quản lý kinh tế, kế toán cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Phản ánh chính xác kịp thời tình hình thu, chi, tăng, giảm, thừa thiếu và số hiện có của từng loại vốn bằng tiền. - Kiểm tra, quản lý nghiêm ngặt việc quản lý các loại vốn bằng tiền nhằm đảm bảo an toàn cho tiền tệ, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tƣợng tham ô, lợi dụng tiền mặt trong kinh doanh. Sinh viên: Vũ Hiền Trang Lớp: QTL603K 4 MSV : 1213401053 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Giám sát tình hình thực hiện kế toán thu, chi các loại vốn bằng tiền, kiểm tra việc chấp hành nghiêm chỉnh chế độ quản lý vốn bằng tiền, đảm bảo chi tiêu tiết kiệm và có hiệu quả cao.
- Hƣớng dẫn và kiểm tra việc ghi chép của thủ quỹ, thƣờng xuyên kiểm tra, đối chiếu số liệu của thủ quỹ và kế toán tiền mặt. - Tham gia vào công tác kiểm kê quỹ tiền mặt, phản ánh kết quả kiểm kê kịp thời. Nguyên tắc hạch toán kế toán vốn bằng tiền Kế toán vốn bằng tiền phải tôn trọng đầy đủ các chế độ, các quy tắc quản lý và lƣu thông tiền tệ hiện hành. Cụ thể: - Hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất đó là đồng Việt Nam, trừ trƣờng hợp đƣợc phép sử dụng một đơn vị tiền tệ thông dụng khác.
- Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt hoặc gửi vào Ngân hàng thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch (tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trƣờng ngoại tệ liên Ngân hàng do Nhà nƣớc Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh) để ghi sổ kế toán. - Trƣờng hợp mua ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt, gửi Ngân hàng hoặc thanh toán công nợ ngoại tệ bằng đồng Việt Nam thì đƣợc quy đổi ra đồng Việt Nam theo giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có các TK 1112, TK 1122 đƣợc quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá ghi trên sổ sách TK1112, hoặc TK 1122 theo một trong các phƣơng pháp: bình quân gia quyền, nhập trƣớc-xuất trƣớc, nhập sau -xuất trƣớc, thực tế đích danh (nhƣ một loại hàng hoá đặc biệt). - Nhóm tài khoản có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam, đồng thời phải hạch toán chi tiết ngoại tệ theo nguyên tệ.
Nếu có chênh lệch tỷ giá hối đoái thì tùy theo từng trƣờng hợp cụ thể sẽ đƣợc xử lý chênh lệch nhƣ sau: + Nếu chênh lệch phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh (kể cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hoạt động đầu tƣ xây dựng cơ bản) thì số lãi do tỷ giá đƣợc phản ánh vào TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính và lỗ do tỷ giá đƣợc phản ánh vào TK 635 – Chi phí tài chính. Sinh viên: Vũ Hiền Trang Lớp: QTL603K 5 MSV : 1213401053 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP + Nếu chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn đầu tƣ xây dựng cơ bản (là giai đoạn trƣớc hoạt động) thì số chênh lệch đƣợc phản ánh vào TK 413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái. + Số dƣ cuối kỳ của các tài khỏan vốn bằng tiền có gốc ngoại tệ phải đƣợc đánh giá lại theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trƣờng ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam công bố tại thời điểm lập Báo cáo tài chính năm. - Đối với vàng bạc, kim khí, đá quý phản ánh ở nhóm tài khoản vốn bằng tiền chỉ đƣợc áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vàng bạc, kim khí, đá quý: + Vàng bạc, kim khí, đá quý phải đƣợc theo dõi về số lƣợng, trọng lƣợng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng loại.
Giá trị vàng bạc, đá quý, kim khí nhập vào quỹ đƣợc tính theo giá thực tế (giá hóa đơn hoặc giá thanh toán). + Khi tính giá xuất vàng bạc, kim khí, đá quý có thể áp dụng một trong bốn phƣơng pháp tính giá hàng tồn kho: bình quân gia quyền, nhập trƣớc-xuất trƣớc, nhập sau-xuất trƣớc và phƣơng pháp thực tế đích danh. Tổ chức công tác kế toán tiền mặt tại quỹ 1. Nguyên tắc hạch toán kế toán tiền mặt tại quỹ 1.
Đối với tiền mặt là tiền Việt Nam - Để hạch toán chính xác tiền mặt thì tiền mặt của doanh nghiệp phải đƣợc tập trung tại quỹ, mọi nghiệp vụ có liên quan đến thu, chi tiền mặt, quản lý và bảo quản tiền mặt đều do thủ quỹ chịu trách nhiệm thực hiện. Thủ quỹ không đƣợc nhờ ngƣời khác làm thay. Trong trƣờng hợp cần thiết thì phải làm thủ tục ủy quyền cho ngƣời khác làm thay và phải đƣợc sự đồng ý của Ban giám đốc công ty. - Chỉ đƣợc phản ánh vào TK 111 “Tiền mặt”, số tiền mặt, ngoại tệ thực tế nhập, xuất quỹ tiền mặt.
Đối với các khoản tiền thu nộp ngay vào ngân hàng (không qua quỹ tiền mặt của đơn vị) thì không ghi vào bên Nợ TK 111 “Tiền mặt” mà ghi vào bên nợ TK 113 “Tiền đang chuyển”. - Các khoản tiền mặt do Doanh nghiệp khác và cá nhân ký cƣợc, ký quỹ tại doanh nghiệp đƣợc quản lý và hạch toán nhƣ các loại tài sản bằng tiền của đơn vị.