Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. - Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. 6 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ THÔNG BÁO DANH MỤC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1. Các khái niệm liên quan 1.
Khái niệm tôn giáo, hoạt động tôn giáo 1.1 Tôn giáo Có thể đưa ra khái niệm chung về tôn giáo, cũng là khái niệm theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] như sau: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”. Về cơ bản, tôn giáo được hình thành khi có đầy đủ các các yếu tố: giáo lý, giáo luật, lễ nghi. Giáo lý và giáo luật là tất cả những lời nói, lời dạy của người sáng tạo ra tôn giáo được ghi chép và truyền đạt lại để tín đồ của tôn giáo thực hành. Lễ nghi là các hình thức cầu, cúng khác nhau được đề cập trong giáo lý của các tôn giáo.
Ngoài ra, một tôn giáo cần có hệ thống tổ chức thống nhất, phải có người đứng đầu (thường gọi là giáo chủ) và những tín đồ sống tách biệt khỏi gia đình, thường xuyên thực hiện các hoạt động theo các giáo lý, giáo luật, quy định riêng của tôn giáo ấy (gọi chung là nhà tu hành).2 Hoạt động tôn giáo. Theo khoản 11 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22]: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo.” Như vậy, pháp luật đã phân hoạt động tôn giáo thành ba loại như sau: sinh hoạt tôn giáo, truyền bá tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. “Sinh hoạt tôn giáo” được định nghĩa tại khoản 10 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] như sau: “Sinh hoạt tôn giáo là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo”. Hiểu một cách đầy đủ hơn, khi các tín đồ, người theo tôn giáo thực hiện những điều được đề cập trong giáo lý, giáo 7 luật, thực hiện các cuộc lễ nghi riêng của tôn giáo mình một cách thường xuyên, các hoạt động này được gọi là “sinh hoạt tôn giáo”.
“Truyền bá tôn giáo” là những hoạt động của các nhà tu hành, tín đồ, người theo tôn giáo thực hiện truyền bá, phổ biến về giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tư tưởng của tôn giáo mình cho mọi người với mục tiêu phát triển và mở rộng tôn giáo ấy. “Quản lý tổ chức của tôn giáo” là việc làm của những người được chọn ra để đứng đầu tôn giáo với vai trò thống nhất quản lý. Quản lý tổ chức của tôn giáo bao gồm quản lý về các mặt: nhân sự, hoạt động của tôn giáo, các vấn đề khác tùy vào quy mô của tổ chức tôn giáo. Một tôn giáo với số lượng nhà tu hành nhất định cần phải có sự quản lý một cách thống nhất, việc quản lý đó thuộc về trách nhiệm của những người đứng đầu tôn giáo, phải đảm bảo những nhà tu hành hoặc tín đồ của tôn giáo đó thực hiện đúng các giáo lý, giáo điều, lễ nghi và không vi phạm pháp luật, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác.
Dựa trên quy định tại Điều 7, khoản 1 Điều 20 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22], có thể tổng hợp một số hoạt động tôn giáo chủ yếu của các tổ chức gồm: - Hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự của tổ chức tôn giáo. - Hoạt động bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc. - Tổ chức đại hội thông qua hiến chương. - Tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý.
- Xuất bản kinh sách và xuất bản các ấn phẩm khác về tôn giáo. - Sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo. - Cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới trụ sở tôn giáo. - Nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặng cho.
- Tham gia hoạt động từ thiện, nhân đạo. - Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Các hoạt động trên có thể được coi là những hoạt động tôn giáo cơ bản của một tổ chức tôn giáo nói chung. Tuy nhiên, ngoài các hoạt động được liệt kê trên, 8 các tổ chức tôn giáo còn có rất nhiều hoạt động khác nhau mà hiện nay pháp luật chưa thể cụ thể hóa được, sự khác nhau này xuất phát từ nội dung giáo lý của mỗi tôn giáo.
Vì vậy, để xác định được “hoạt động tôn giáo”, cần xác định hoạt động ấy có thuộc một trong ba loại là sinh hoạt tôn giáo, truyền bá tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo hay không. Khái niệm thông báo hoạt động tôn giáo Từ khái niệm về hoạt động tôn giáo, có thể định nghĩa thông báo hoạt động tôn giáo như sau: Xét trên phương diện tục pháp lý, thông báo hoạt động tôn giáo cụm từ nói chung dùng để chỉ các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật. Theo đó, pháp luật quy định về các hoạt động mà tổ chức phải có văn bản thông báo tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thông báo về hoạt động tôn giáo của tổ chức mình. Về hình thức, thông báo hoạt động tôn giáo được thực hiện dưới hình thức văn bản, gồm có tên tổ chức, địa điểm, thời gian diễn ra hoạt động, tên các hoạt động, người đại diện thực hiện và một số nội dung khác.
Tùy vào mỗi loại hoạt động sẽ có các quy định về hình thức và mẫu văn bản thông báo hoạt động tôn giáo khác nhau Các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp theo thẩm quyền của mình có trách nhiệm tiếp nhận mà không cần phản hồi lại về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, đồng thời lưu trữ và quản lý văn bản nhằm nắm bắt thông tin về hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Khái niệm thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Để làm rõ hơn các vấn đề liên quan đến thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, trước hết, xin được nêu khái niệm thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Cụm từ “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa như sau: Dƣới góc độ thủ tục pháp lý, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là một thủ tục hành chính trong lĩnh vực tôn giáo được quy định riêng trong Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016. Thủ tục này được thể hiện dưới hình thức văn bản và được 9 thực hiện bởi các tổ chức tôn giáo, tổ chức trực thuộc tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, được quản lý bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền tiếp nhận, nội dung, hình thức thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được thực hiện theo quy định tại Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Dƣới góc độ một loại văn bản hành chính, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là một loại “văn bản đến” (1) , do các tổ chức tôn giáo, tổ chức trực thuộc tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo gửi đến cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào quy định nội bộ của từng cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước về tôn giáo nên có sự khác khác nhau về cách phân loại, sắp xếp các văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, chủ yếu có thể phân loại sắp xếp theo các cách sau: - Phân loại theo tôn giáo: gồm 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận theo Công văn số 6955/BNV-TGCP của Bộ Nội vụ [2].
- Phân loại theo nội dung thông báo gồm: văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm và văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung. Theo đó, có thể phân biệt cơ bản đối với hai khái niệm “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” và “thông báo hoạt động tôn giáo” như sau: Thông báo danh mục hoạt Thông báo hoạt động tôn Tiêu chí so sánh động tôn giáo giáo - Điều 31, 33, 34, 35, 36, 39, 42, 43, 44, 53 Luật Tín Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn Cơ sở pháp lý ngưỡng tôn giáo 2016. giáo 2016 - Điều 25, 26 Nghị định 95/2023/NĐ-CP Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được Chủ thể thực hiện cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo 1 Theo định nghĩa tại khoản 6 Điều 3 Nghị định 30/2020/NĐ-CP: “Văn bản đến” là tất cả các loại văn bản do cơ quan, tổ chức nhận được từ cơ quan, tổ chức, cá nhân khác gửi đến. 10 Chủ thể tiếp nhận và Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý - 30 ngày đối với thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm Tùy vào từng thủ tục thời hạn Thời gian thực hiện - 20 ngày đối với thông báo khác nhau danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung Quy định tại Phụ lục danh mục các biểu mẫu kèm theo Nghị Mẫu văn bản định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Chính phủ Bảng 1.1 So sánh “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” và “thông báo hoạt động tôn giáo 1.
Khái niệm quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các công việc chỉ đạo tổ chức, thực hiện và kiểm tra việc tiếp nhận, lưu trữ sau khi nhận được văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo của các tổ chức theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định. Do vậy, việc thực hiện pháp luật về quản lý thông báo danh mục hoạt đông tôn giáo bao gồm các hoạt động: xây dựng kế hoạch, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện pháp luật về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bao gồm các nội dung sau đây: - Quản lý thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. - Quản lý thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.