CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái niệm và vai trò nguồn nhân lực của tổ chức 1.1 Khái niệm Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân cóvai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường (Trần Kim Dung, 2011) “Theo quan niệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh)” (Nguyễn Tiệp, 2006).
Theo Begg, Fischer và Dornbusch: “Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyênmôn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai"(Nguyễn Công Nghiệp, 2004). Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai. Cách hiểu này còn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn của con người và chưa đặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của nguồn nhân lựcTheo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: xét trên bình diện quốc gia hayđịa phương nguồn nhân lực được xác định là “Tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó” (Nguyễn Công Nghiệp, 2004). Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương.
Một cách chung nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm người, một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia. Độ tuổi lao động được qui định 10 cụ thể ở mỗi nước có khác nhau. ở Việt Nam hiện nay, theo qui định của Bộ luật lao động, tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi.
Nguồn nhân lực của một tổ chức, một cơ quan quản lý nhà nước là hệ thống công chức bao gồm số lượng, chất lượng, tiềm năng hiện có và tiềm năng của đội ngũcông chức, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của chiến lược phát triển tổ chức trong mộtthời kỳ nhất định. Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà tiềm năng về thể lực, trí lực và tâmlực của công chức có thể đám ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức.2 Vai trò nguồn nhân lực của tổ chức Vai trò của nguồn nhân lực trong các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hộingày nay được nhận thức như một yếu tố năng động nhất. Sự hoàn thiện nguồn nhân lực luôn là mục tiêu cao nhất của quá trình quản trị. Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần cũng chỉ ra rằng động lực quantrọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con người, là nguồn nhânlực.
Tuy nhiên các lý thuyết này cũng nhấn mạnh rằng: con người, nguồn nhân lựcphải được đầu tư hoàn thiện, tạo lập kiến thức kỹ năng tay nghề, kinh nghiệm, năng lựcsáng tạo để trở thành nguồn vốn-vốn con người, vốn nhân lực”. Và như vậy người tađã nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn nhân lực. Tóm lại, nhân tố con người không chỉ là một nguồn lực quan trọng mà còn có vaitrò quyết định cho sự thành công trong xây dựng và phát triển kinh tế của một quốc giakể cả trước mắt cũng như lâu dài. Vì vậy,cần phải có một chiến lược hoàn thiện nguồn nhânlực phù hợp với định hướng phát triển của các tổ chức kể cả trong hiện tại và tương lai.2 Quản trị nguồn nhân lực của tổ chức 1.1 Khái niệm quản trị nguồn nhân lực của tổ chức Có rất nhiều khái niệm về quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) do cách tiếp cận khác nhau: Theo Trần Kim Dung (2013), QTNNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên.
Ở một góc độ khác, Đồng Thị Thanh Phương và Nguyễn Thị Ngọc An (2012) cho rằng QTNNL là việc quản lý con người ở một đơn vị tổ chức, một công ty, một doanh nghiệp. Điều này bao gồm tất cả các chính sách, các điều lệ, các tiêu chuẩn tuyển chọn, 11 huấn luyện, đánh giá và trả công cho nhân viên, kể cả các quan tâm về công bằng, phúc lợi, sức khỏe và an toàn lao động. Đề cao vai trò của con người, theo Hà Văn Hội (2006) QLNNL là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân. Trong luận văn này, tác giả chọn khái niệm của Trần Kim Dung vì nó thể hiện tính khái quát cao và đầy đủ các nội dung cốt lõi giúp việc phân tích và đánh giá hoạt động quản lý nguồn nhân lực được sâu và toàn diện hơn.
QTNNL nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vĩ mô có hai mục tiêu cơ bản: - Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với tổ chức (Trần Kim Dung, 2013).2 Vai trò của QTNNL QTNNL đóng vai trò trung tâm trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung của các tổ chức, giúp có thể tồn tại, phát triển và đi lên trong cạnh tranh (Hà Văn Hội, 2006). Điều quyết định cho sự tồn tại và phát triển của công ty là những con người mà công ty đang có. Đó là những con người có học vấn cao, được đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hoá, và biết cách làm việc có hiệu quả (Giáo Sư Tiến Sĩ Letter C.Thurow – nhà kinh tế và là nhà quản trị học thuộc viện công nghệ kỹ thuật Mas Sachusett (MIT)).
Tài nguyên duy nhất thực sự còn có tính cách quốc gia là nhân công, năng lực trí tuệ và óc sáng tạo của họ. Đó là những gì sẽ quyết định sự thịnh vượng trong tương lai (Giáo Sư Tiến Sĩ Robert Keich). QTNNL tạo ra sự điều chỉnh và hoà hợp con người trong tập thể, từ đó hình thành nên bộ mặt văn hoá của công ty góp phần trong việc quyết định sự thành đạt của công ty. Nghiên cứu QTNNL giúp các nhà quản trị học biết được cách giao dịch với người khác, biết cách đặt câu hỏi, biết lắng nghe, biết tìm ra ngôn ngữ chung với nhân viên, biết đánh giá nhân viên một cách tốt nhất, biết cách lôi kéo họ say mê với công việc, nâng cao hiệu quả tổ chức.
12 Nghiên cứu QTNNL giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Nghiên cứu QTNNL giúp cho các nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết cách nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đưa chiến lược con người trở thành một bộ phận hữu cơ trong chiến lược kinh doanh của tổ chứcvề nguồn nhân lực (Trần Kim Dung, 2013). Như vậy, về mặt kinh tế thì QTNNL giúp cho tổ chức khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của tổ chứcvề nguồn nhân lực. Về mặt xã hội, QTNNL thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức và người lao động, góp phần làm giảm bớt mâu thuẫn tư bản – lao động trong các tổ chức.
Để phát triển tổ chức bền vững và quản trị cấp dưới hiệu quả, tất cả các nhà quản trị cần có nhận thức, hiểu biết và kỹ năng QTNNL phù hợp (Trần Kim Dung, 2013). Tóm lại, QTNNL đóng vai trò trung tâm trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung của các tổ chức, giúp tổ chức có thể tồn tại, phát triển và đi lên trong cạnh tranh. Vai trò trọng tâm này xuất phát từ vai trò của con người: con người là yếu tố cấu thành tổ chức; bản thân con người vận hành tổ chức và con người quyết định sự thắng bại của tổ chức. Chính vì vai trò quan trọng của nguồn nhân lực nên QTNNL là một lĩnh vực quản trị quan trọng trong mọi tổ chức (Hà Văn Hội, 2006).3 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá kết quả QTNNL Công tác QTNNL có những mục tiêu sau: Một là, Mục tiêu xã hội: Tổ chức phải đáp ứng nhu cầu và thách đố của xã hội, DN hoạt động vì lợi ích của xã hội chứ không phải chỉ riêng lợi ích của tổ chức.
Hai là, Mục tiêu thuộc về tổ chức: QTNNL là tìm cách thích hợp để các bộ phận cũng như toàn bộ tổ chức có được những người làm việc hiệu quả. QTNNL tự nó không phải là cứu cánh, nó chỉ là một phương tiện giúp tổ chức đạt được các mục tiêu. Ba là, Mục tiêu chức năng và nhiệm vụ: Mỗi bộ phận phòng ban đều có chức năng nhiệm vụ riêng, vì thế mỗi bộ phận phòng ban phải đóng góp phục vụ cho mục tiêu chung của toàn tổ chức.