Chương 1 sẽ trình bày khái quát cơ sở lý luận chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng, lịch sử hình thành và phát triển, các thành phần cũng như lợi ích của chuỗi cung ứng mang lại cho doanh nghiệp.1 Khái quát về chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm về chuỗi cung ứng Dưới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng: - Chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm hay một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng. - Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường. - Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng.
- Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, phân phối chúng cho khách hàng.1: Mô hình một dây chuyền cung ứng sản phẩm (Nguồn: An Approach towards overall supply chain efficiency – Hai Lu & Yirong Su, 2002, trang 08). Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng, nói chung đều mô tả chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa hàng loạt các nhà cung ứng và khách hàng được kết nối với nhau, trong đó mỗi khách hàng đến lượt mình lại là nhà cung ứng cho tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm đến tay người tiêu dùng. Chuỗi này được bắt đầu từ việc khai thác các nguyên liệu thô và người tiêu dùng là mắc xích cuối cùng của chuỗi. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó.
Ví dụ một chuỗi cung ứng bắt đầu với các doanh nghiệp khai thác nguyên liệu từ đất - chẳng hạn như quặng sắt, dầu mỏ, gỗ và lương thực – và bán chúng cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu. Các doanh nghiệp này, đóng vai trò như người đặt hàng và sau khi nhận các yêu cầu về chi tiết kỹ thuật từ các nhà sản xuất linh kiện, họ sẽ tiếp tục chế biến vật liệu này thành các vật liệu thích hợp (như tấm thép, nhôm, đồng đỏ, gỗ xẻ và thực phẩm đã kiểm tra). Đến lượt 6 mình, các nhà sản xuất linh kiện phải đáp ứng đơn hàng và yêu cầu từ khách hàng của họ - nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng. Đầu ra của quá trình này là các linh kiện hay các chi tiết trung gian (như dây điện, vải, mạch in, những chi tiết cần thiết.
Nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng (các công ty như IBM, General Motors, Coca-Cola) lắp ráp sản phẩm hoàn thành, bán chúng cho người bán sỉ hoặc nhà phân phối, để rồi những thành viên này sẽ bán chúng lại cho nhà bán lẻ, những người thực hiện sứ mệnh đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng. Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạn nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Những chức năng này bao hàm và không bị hạn chế trong việc phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) là hoạch định, thiết kế, kiểm soát luồng thông tin và nguyên vật liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được các yêu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai. Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý các mối quan hệ bên trên và bên dưới, với nhà cung cấp và khách hàng nhằm cung cấp giá trị khách hàng cao nhất với chi phí thấp nhất tính cho tổng thể chuỗi cung ứng.
Trong “Strategis Logistic Management”, James R. Stock và Douglas M. Lamber định nghĩa rằng: “Quản trị chuỗi cung ứng là sự hợp nhất các quy trình hoạt động kinh doanh chủ yếu từ ngươi tiêu dùng cuối cùng cho đến những nhà cung ứng đầu tiên cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, thông tin, từ đó gia tăng giá trị cho khách hàng và các cổ đông”.2 Phân biệt chuỗi cung ứng với kênh phân phối Kênh phân phối là một thuật ngữ chủ yếu được sử dụng trong marketing: - Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng. - Là một nhóm tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động phân phối làm cho sản phẩm/dịch vụ ở trạng thái sẵn sàng để khách hàng có thể mua sắm và tiêu dùng một cách thuận tiện.
- Là dòng chảy của sản phẩm từ nơi sản xuất tới tay người tiêu dùng. Kênh phân phối là một bộ phận của chuỗi cung ứng. Do đó, nói đến kênh phân phối là nói đến hệ thống bán hàng hòa, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.3 Phân biệt quản trị chuỗi cung ứng với quản trị logistics Theo quan điểm “7 right” thì Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng số lượng, đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho đúng khách hàng. Logistics là quá trình đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, logistics là một phần của chuỗi cung ứng từ nhà sản xuất đến khách hàng. Hay nói khác đi rằng: quản trị logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu lực, hiệu quả hoạt động vận chuyển, lưu trữ hàng hóa, dịch vụ từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ cuối cùng với mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Do đó, theo nghĩa rộng, quản trị logistics là quản trị chuỗi cung ứng. Theo nghĩa hẹp, nếu chỉ liên hệ đến vận chuyển bên trong và phân phối ra bên ngoài thì logistics chỉ là một bộ phận của quản trị chuỗi cung ứng.4 Lịch sử phát triển của quản trị chuỗi cung ứng Trong suốt những năm 1950 và 1960, các công ty của Mỹ áp dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến sản xuất, trong khi ít chú ý đến việc tạo mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy trình và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm.
Thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn lực nội bộ, công nghệ và công suất.Tồn kho tăng cao trong sản xuất do các nhà máy tăng tồn kho để máy móc hoạt động thông suốt và ổn định dòng nguyên vật liệu. Trong những năm 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII) được phát triển, sự quan trọng của quản trị hiệu quả nguyên vật liệu càng được nhấn mạnh. Sự phát triển của công nghệ thông tin làm cho các phần mềm kiểm soát tồn kho ngày càng hiệu quả, góp phần làm giảm đáng kể chi phí tồn kho trong khi vẫn cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng như nguồn cung. Những năm 1980 được xem là thời kỳ nền móng cho quản trị chuỗi cung ứng.
Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên được sử dụng phổ biến trên nhiều báo chí của Mỹ. Cạnh tranh thị trường khốc liệt vào đầu những năm 1980 đã buộc các nhà sản xuất phải tìm cách cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng mức độ phục vụ khách hàng. Các hãng sản xuất áp dụng Just In Time và chiến lược quản trị chất lượng toàn diện TQM nhằm cải thiện chất lượng, nâng cao hiệu suất và cải thiện thời gian giao hàng. Tồn kho nguyên vật liệu giảm hơn trước khiến các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích và tầm quan trọng của mối quan hệ chiến lược giữa nhà cung cấp – người mua – khách hàng.
Để giải quyết những thách thức đang gia tăng vào đầu những năm 1990, các nhà sản xuất bắt đầu mua nguyên liệu từ các nhà cung cấp có chất lượng cao, nổi tiếng và được chứng nhận. Ngoài ra, các hãng sản xuất còn yêu cầu các nhà cung cấp tham gia 9 vào việc phát triển sản phẩm mới, đóng góp ý kiến nhằm cải thiện dịch vụ, chất lượng và hạ chi phí chung. Doanh số của các doanh nghiệp sản xuất tăng nhờ vào sự cải tiến chất lượng, phân phối và thiết kế sản phẩm, cũng như giảm chi phí. Nhiều đối tác chiến lược giữa nhà cung cấp – người mua đã thành công.
Vào cuối những năm 1990, quản trị chuỗi cung ứng trở nên phổ biến hơn, được xem là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Các nhà quản trị bắt đầu nhận thức sâu sắc hơn về sự khác biệt giữa logistics và quản trị chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng mới được nhìn nhận như là hoạt động hậu cần bên ngoài doanh nghiệp. Khi áp dụng quản trị chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp bắt đầu hiểu được sự cần thiết phải tích hợp tất cả các quy trình kinh doanh then chốt giữa các bên tham gia trong chuỗi, cho phép chuỗi cung ứng hoạt động thống nhất. Cách thức tổ chức chuỗi cung ứng thay đổi tương ứng với lịch sử phát triển của nó.
Dưới đây là một số mô hình tiêu biểu. 10 Mô hình theo chức năng: phổ biến ở những năm 70 và 80, cho đến ngày nay còn nhiều doanh nghiệp vẫn còn sử dụng mô hình này Hình 1.2: Mô hình tổ chức chuỗi cung ứng theo chức năng (Nguồn: “Strategic Supply Chain Management”- Chapter 3: Design your organization for performance, page 108) 11 Khi sự kết hợp của các bộ phận vươn ra ngoài phạm vi chức năng (ví dụ như sản xuất và logistic kiêm luôn quản lý nhà cung cấp và quản lý đơn hàng…) lúc này người ta bắt đầu chuyển sang sử dụng mô hình chuyển đổi Hình 1.3: Mô hình tổ chức chuỗi cung ứng trong thời kỳ quá độ (Nguồn: “Strategic Supply Chain Management”- Chapter 3: Design your organization for performance, page 108) 12 Cuối những năm 1990, quá trình hợp nhất chuỗi cung ứng bắt đầu diễn ra, nhưng mới là hợp nhất từng phần, mô hình tổ chức ở thời kỳ này như sau: Hình 1.