CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH 1. TỔNG QUÁT VỀ BHXH 1. Nguồn gốc ra đời và tính khách quan của BHXH Thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làm tiêu đề cho một văn bản pháp luật vào năm 1935 (Luật Bảo hiểm xã hội năm 1935 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ[1]). Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật được thông qua tại New Zealand năm 1938.
Năm 1941, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ này được dùng trong Hiến chương Đại Tây Dương (the Atlantic Charter of 1941). Thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” được hiểu không giống nhau giữa các nước về mức độ phạm vi rộng hẹp của nó. Tuy nhiên, về cơ bản thì thuật ngữ này được hiểu với nghĩa là sự bảo đảm an toàn của xã hội dành cho thành viên của nó thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải toả những lo âu về kinh tế và xã hội cho thành viên. Nói cách khác, nó góp phần giúp các thành viên trong xã hội và gia đình khắc phục sự suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập thực tế do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hưu trí, và tử tuất; đồng thời cung cấp về dịch vụ y tế, trợ cấp gia đình có con nhỏ.
Pieters bảo hiểm xã hội được hiểu với tư cách là một tổ chức được hình thành với mục đích hỗ tương giữa người với người để đối phó với sự thiếu hụt thu nhập (chẳng hạn như thu nhập từ tiền công lao động), hoặc những tổn thất cụ thể khác. Sự ra đời của BHXH cũng giống như các chính sách xã hội khác luôn bắt nguồn từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống đặt ra.Từ thời xa xưa, để chống lại những rủi ro, thiên tai của cuộc sống con người đã biết đoàn kết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng sự giúp đỡ này chỉ mang tính tự phát và với quy mô nhỏ, thường là trong một nhóm người chung quan hệ huyết thống. Khi xã hội ngày càng phát triển và có máy móc tham gia vào quá trình sản xuất, cùng với nó là quan hệ xã hội giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng cũng phát triển hơn.
Nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển từ sau cuộc cách mạng công nghiệp làm cho nhu cầu thuê mướn lao động ngày càng tăng lên. 6 Giai cấp công nhân là giai cấp lao động làm thuê cho giới chủ, họ được chủ cam kết trả tiền lương và tiền công. Tuy nhiên, người lao động bị bóc lột tàn bạo và đối xử không công bằng; giờ làm việc kéo dài, cường độ lao động cao nhưng tiền công lại thấp. Ốm đau, tai nạn lao động xảy ra thường xuyên.
Với mức lương thấp họ không thể đảm bảo cuộc sống cho mình và gia đình, nhất là khi lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bệnh tật. Thêm vào đó, nhà nước cũng như giới chủ không hề quan tâm hay giúp đỡ họ. Đứng trước tình hình đó giai cấp công nhân đã liên kết lại để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập các tổ chức tương tế và vận động mọi người tham gia; đấu tranh tự phát với giới chủ như: đòi tăng lương giảm giờ làm; thành lập các tổ chức công đoàn và sau này là đấu tranh có tổ chức nhưng bị giới chủ đàn áp thậm tệ. Giai cấp công nhân không đòi được quyền lợi mà còn bị tổn thất nặng nề.
Mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ ngày càng trầm trọng và sâu sắc. Tình đoàn kết tương thân tương ái giữa họ đã nảy nở, cùng với đó là sự ra đời của các nghiệp đoàn, các hiệp hội giúp đỡ các thành viên khi bị ốm đau bệnh tật trong quá trình sản xuất. Bên cạnh Hội tương tế còn có Quỹ tiết kiệm được Nhà nước khuyến khích thành lập. Tiếp đó những quy định bắt buộc người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải chu cấp cho NLĐ thuộc quyền quản lí khi họ gặp phải ốm đau, tai nạn lao động, mất việc.
Giai cấp công nhân càng đông đảo thì sức ép đối với những đòi hỏi đảm bảo cuộc sống cho họ ngày càng ảnh hưởng đến đời sống chính trị của mỗi nước. Trước tình cảnh đó Chính phủ mỗi nước không thể không quan tâm đến tình cảnh của người lao động. Những yêu cầu giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo cuộc sống của NLĐ dần được quy định thành các chính sách bắt buộc đối với mỗi nước. Các nước trên thế giới đều ghi nhận rằng BHXH ra đời là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản.
Tại Việt Nam Bảo hiểm xã hội bắt đầu xuất hiện những năm 1930 của thế kỷ XX. Các chế độ trợ cấp đầu tiên cho quân nhân và viên chức làm việc trong bộ máy hành chính và Khu công nghiệp của Pháp ở đông Dương là ốm đau, già yếu hoặc chết. Đặc biệt sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm và thực hiện chính sách BHXH đối với NLĐ thông qua một loạt các sắc lệnh: Sắc lệnh số 54 ngày 03/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời quy định những căn cứ, điều kiện 7 để các công chức Nhà nước được hưởng chế độ hưu trí; Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong đó có quy định cụ thể về các chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp hưu trí và tiền tuất đối với công chức Nhà nước. Như vậy, trong thời kỳ này, đối tượng tham gia và hưởng các chế độ BHXH chỉ gồm hai đối tượng là công chức Nhà nước và công nhân, các chế độ BHXH áp dụng gồm trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất.
Sau khi hoà bình lập lại trên Miền Bắc, ngày 27/12/1961, Chính phủ ban hành Nghị định 218/CP về "Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức”. Hệ thống chế độ BHXH ở Việt Nam lúc này bao gồm: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp TNLĐ và BNN, chế độ trợ cấp hưu trí, chế độ trợ cấp mất sức lao động và chế độ trợ cấp tử tuất. Chính sách BHXH ban hành kèm theo Nghị định 218/CP có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định đời sống cho NLĐ, thu hút và động viên hàng triệu lao động tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách BHXH đã không còn phù hợp.
Vì vậy, ngày 22/6/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế, đánh dấu bước đổi mới quan trọng của BHXH ở Việt Nam. Theo Nghị định 43/CP, chế độ trợ cấp MSLĐ đã bị loại bỏ và chỉ thực hiện 5 chế độ còn lại. Sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách BHXH lại được Đảng và Nhà nước tiếp tục sửa đổi và bổ sung. Những nội dung cơ bản về BHXH thể hiện ở Bộ luật Lao động được thông qua tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá IX ngày 23/06/1994 [10].
Trên cơ sở những quy định của Bộ luật Lao động, ngày 26/01/1995, Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP. Đồng thời, ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập hệ thống BHXH Việt Nam. Theo thời gian, các văn bản pháp quy về BHXH được ban hành, sửa đổi và bổ sung làm cho BHXH ngày càng được hoàn thiện, chẳng hạn: Nghị định của Chính phủ số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi, bổ sung. Năm 2006 Luật BHXH số 71 /2006/QH11 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9 khóa 11 ngày 29/06/2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, đặc biệt ngày 20 tháng 11 năm 2014 tại 8 kỳ họp thứ 8 khóa 13 Quốc hội thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2017.
Bản chất và chức năng của BHXH a)Bản chất của BHXH. Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: BHXH là thu nhập khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến mức nào đó. Nền kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện, càng chứng tỏ được những mặt ưu điểm hơn. Vì vậy có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước.
Đóng vai trò như một vị cứu tinh cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro làm giảm thu nhập trong cuộc sống. Có thể nói nhu cầu về BHXH thuộc về nhu cầu tự nhiên của con người. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm bảo cho các tiêu chuẩn hay giá trị cho cuộc sống tối thiểu. -Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.
Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết. BHXH được xem như là một hệ thống các hoạt động mang tính xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội nói chung.
-Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể nói là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp… hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động. Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. 9 Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu.