CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 1.1 Tổng quan về quản lý tài chính trong doanh nghiệp dịch vụ 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp Theo luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 59/2020/QH14 khóa XIV thông qua ngày 17/06/2020 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [5] Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam.2 Phân loại doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp dịch vụ a. Phân loại doanh nghiệp Hiện nay, có nhiều cách phân loại doanh nghiệp dựa theo các tiêu chí khác nhau: - Ta có thể chia doanh nghiệp làm hai loại dựa vào giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu đối với các khoản nợ của doanh nghiệp là: Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn: trong đó những khoản nợ của doanh nghiệp được chủ sở hữu chịu trách nhiệm trong phạm vi số tài sản mà họ đã đồng ý góp vốn. Doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn: trong đó những khoản nợ của doanh nghiệp chủ sở hữu chịu trách nhiệm không chỉ giới hạn ở số tài sản họ đã đồng ý góp vốn mà bằng toàn bộ tài sản của họ. - Ta có thể chia doanh nghiệp nghiệp dựa vào hình thức và mức độ góp vốn của chủ sở hữu như sau: Doanh nghiệp nhà nước: doanh nghiệp được gọi là doanh nghiệp nhà nước khi vốn điều lệ của họ được Nhà nước sở hữu trên 50%.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: doanh nghiệp được gọi là doanh nghiệp có 6 vốn đầu tư nước ngoài khi một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của họ được đầu từ bởi nhà đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp được gọi là doanh nghiệp tư nhân khi doanh nghiệp đó do một cá nhân đầu tư vốn thành lập và làm chủ. Công ty: Một doanh nghiệp được thành lập và sở hữu chung bởi các cá nhân, tổ chức hoặc nhiều cá nhân và tổ chức (gọi tắt là Thành viên). - Ta có thể chia doanh nghiệp dựa vào hình thức tổ chức quản lý và hoạt động (hình thức pháp lý) của doanh nghiệp đó.
Theo luật doanh nghiệp năm 2020 doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam hiện nay được chia thành các loại như sau: + Công ty trách nhiệm hữu hạn; + Công ty cổ phần; + Công ty hợp danh; + Doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, Luật doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định thêm về nhóm công ty tồn tại dưới các hình thức: + Công ty mẹ – công ty con; + Tập đoàn kinh tế, tổng công ty; + Các hình thức khác. Phân loại doanh nghiệp dịch vụ Căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau Doanh nghiệp dịch vụ có thể được chia thành nhiều loại hình khác nhau. Các tiêu chí đó là theo lĩnh vực phục vụ hoặc theo đối tượng phục vụ.
- Phân loại theo lĩnh vực phục vụ: 7 Theo tiêu thức này, Doanh nghiệp dịch vụ được chia thành hai loại là: Doanh nghiệp dịch vụ có tính chất sản xuất (dịch vụ vật chất) và doanh nghiệp dịch vụ không sản xuất (dịch vụ không vật chất). - Phân loại theo đối tượng phục vụ: Căn cứ tiêu thức này, Doanh nghiệp dịch vụ được chia thành hai loại: Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mang tính chất xã hội (dịch vụ công): Dịch vụ mang tính chất xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống cộng đồng ví dụ dịch vụ chuyển phát hồ sơ từ các cơ quan quản lý nhà nước đến người dân, vui chơi giải trí, chữa bệnh công cộng. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mang tính chất cá nhân (dịch vụ cá nhân): đây là dịch vụ bao gồm hầu hết các dịch vụ phục vụ đời sống vật chất, văn hóa, thẩm mỹ và tình cảm của con người; các sản phẩm của loại dịch vụ này thuộc quyền sở hữu cá nhân của người tiêu dùng và được hình thành thông qua trao đổi.2 Tài chính trong doanh nghiệp dịch vụ 1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là các quỹ bằng tiền của doanh nghiệp. Các quỹ bằng tiền được thể hiện qua hình thái như nhà cửa, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, vốn bằng tiền và các loại chứng khoán có giá… Ngoài ra tài chính doanh nghiệp còn là hệ thống các mối quan hệ kinh tế mật thiết với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ để phục vụ và hướng dẫn quá trình SXKD của doanh nghiệp.
[6] Các mối quan hệ kinh tế được thể hiện dưới dạng giá trị, tức là các mối quan hệ tài chính của các doanh nghiệp được liên kết với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp. Mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp thể hiện trong sự vận động của vốn kinh doanh và thể hiện thông qua ba mối quan hệ lớn dưới đây: - Mối quan hệ kinh tế giữa Doanh nghiệp và ngân sách Nhà nước: Mối quan hệ thông qua việc phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân và thu nhập quốc nội. Mối quan hệ kinh tế này thường ít mang tính chất sở hữu mà được điều chỉnh bởi các mối quan hệ pháp luật thông qua các luật thuế mà mọi doanh nghiệp đều thực hiện. 8 Những khoản doanh nghiệp phải nộp là nguồn thu nhập của ngân sách.
Ngược lại vốn hỗ trợ từ ngân sách thể hiện quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp. - Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà đầu tư, người cho vay, với khách hàng và người tiêu dùng: Mối quan hệ này được phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn đầu tư, cho các doanh nghiệp khác vay. Khi đó phát sinh quan hệ thương mại như mua bán vật tư, hàng hóa. Mọi mối quan hệ kinh tế đó luôn chịu sự điều chỉnh của các quy luật kinh tế, quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh.
- Mối quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp: là các quan hệ giữa doanh nghiệp với các đơn vị trực thuộc, phụ thuộc doanh nghiệp, quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động. Trong sản xuất kinh doanh, các mối quan hệ kinh tế được thể hiện dưới dạng các giá trị tồn tại một cách khách quan. Các mối quan hệ này gắn liền với việc hình thành và sử dụng nguồn vốn bằng tiền của doanh nghiệp (vốn cố định, vốn lưu động…). Những quan hệ trên đòi hỏi tài chính doanh nghiệp phải bao quát toàn bộ sự hình thành và sử dụng vốn lưu động, vốn cố định cũng như chi phí; sự hình thành và sử dụng thu nhập, tích lũy tiền tệ trong doanh nghiệp.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp Thứ nhất: Tổ chức vốn (tạo vốn đảm bảo nhu cầu vốn trong các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp) và quay vòng vốn.
Muốn đảm bảo đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải tổ chức tốt nguồn vốn và phải xác định số vốn cần thiết để tổ chức và sử dụng mọi nguồn vốn hợp pháp, hợp lệ, hợp lý nhằm đáp ứng đủ nhu cầu vốn và luân chuyển vốn nhanh nhất có thể. Thứ hai: Phân phối thu nhập bằng tiền, chức năng này là việc hình thành các khoản thu nhập bằng tiền, bù đắp chi phí để tái tạo lại các nguồn vốn của doanh nghiệp và phân phối tích tiền tích lũy đạt được từ việc huy động và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp. 9 Thứ ba: Giám đốc (kiểm tra) bằng tiền đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - chức năng Giám đốc của tài chính doanh nghiệp là loại giám đốc toàn diện, thường xuyên và hiệu quả, chức năng này không chỉ giúp doanh nghiệp thấy rõ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra mà còn giúp nhìn rõ tiến trình hoạt động của doanh nghiệp. Ba chức năng của tài chính doanh nghiệp có mối quan hệ với nhau trong một hệ thống hữu cơ không thể tách rời nhau, các chức năng này phải tiến hành đồng thời với nhau.
Nếu thực hiện tốt chức năng giám đốc tài chính doanh nghiệp thì kiểm tra tốt nên quá chức năng tổ chức vốn tốt được và ngược lại nếu chức năng tổ chức vốn và phân phối thu nhập bằng tiền tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng giám đốc.3 Đặc điểm của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp dịch vụ Có nhiều các định nghĩa dịch vụ, một trong số đó là một loại sản phẩm kinh tế, không phải là vật phẩm. Nó được hiểu là những được thực hiện bởi con người dưới hình thái là lao động thể lực, kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại. Dịch vụ được khái quát là những hoạt động lao động mang tính xã hội nhằm tạo ra các sản phẩm, hàng hóa không tồn tại ở dạng vật chất, chúng đáp ứng các nhu cầu trong sản xuất và đời sống của con người. Như vậy, dịch vụ là một hoạt động rất rộng, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Dịch vụ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế năng động hơn, hiệu quả hơn và đảm bảo sự thuận tiện cho các lĩnh vực trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của xã hội. Ngành dịch vụ có những đặc điểm khác biệt như: Thứ nhất, sản phẩm của ngành dịch vụ là sản phẩm vô hình – có nghĩa là sản phẩm dịch vụ không có hình thái vật chất cụ thể và độc lập, ngay cả khi nó có tính sản xuất vật chất. Sản phẩm của dịch vụ chỉ là sự phục vụ. Với các đặc điểm này chúng ta thấy, hàng tồn kho không được đánh giá là sản phẩm dịch vụ trong hệ thống chỉ tiêu tài chính mà chỉ là yếu tố tiềm năng để có thể tạo nên dịch vụ trong các doanh nghiệp dịch vụ.
10 Thứ hai, việc sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời – có nghĩa là dịch vụ diễn ra song hành trong quá trình cung cấp và tiêu dùng. Do đó chỉ tiêu chi phí sản xuất sản phẩm dở dang thường không tồn tại ở các doanh nghiệp dịch vụ. Thứ ba, ở nhiều trường hợp khác nhau sau khi đã thực hiện hoạt động dịch vụ, các yếu tố của dịch vụ không bị mất đi mà vẫn còn nguyên vẹn. Quá trình tạo ra một dịch vụ được lặp lại nhiều lần ví dụ như lượng thông tin tư vấn pháp luật có thể cung cấp cho khách hàng.