phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề án gồm có 4 Phần: Phần 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của công tác quản lý về vệ sinh môi trường. Phần 2: Phương pháp nghiên cứu xây dựng đề án. Phần 3: Thực trạng công tác quản lý về dịch vụ VSMT trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Phần 4: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dịch vụ vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội 4 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA ĐỀ ÁN 1.
Cơ sở lý luận công tác quản lý dịch vụ vệ sinh môi trường 1. Một số khái niệm cơ bản quản lý về dịch vụ 1. Dịch vụ công ích Dịch vụ công Khái niệm dịch vụ công được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau chiến tranh thế giời thứ hai. Dịch vụ công theo từ điển tiếng Anh là “public service”.
Trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với dịch vụ công, mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm riêng, vì thế không có định nghĩa chung nhất nào về dịch vụ công. Trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam cùng với hướng tiếp cận về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nước, có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ công như sau: “dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Theo Chu Xuân Thành (2004), dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội; và cho rằng dịch vụ công bao gồm dịch vụ sự nghiệp công (hoặc phúc lợi công), dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công, đồng thời nhấn mạnh là không được lẫn lộn với hoạt động công vụ là hoạt động hàng ngày của bộ máy công quyền. Cũng liên quan đến khái niệm dịch vụ công, Nguyễn Xuân Lan (2012) lại cho rằng: Dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ nhà nước can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.
Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện những chức năng 5 vốn có của chính phủ, bao gồm từ hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, tòa án.cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng. Dịch vụ công còn được hiểu là những hàng hóa dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả, công bằng. Từ những khái niệm trên, có thể khái quát lại: Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân, vì lợi ích chung của xã hội, do nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cho các chủ thể khác cung ứng nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội. Căn cứ vào tính chất và tác dụng của dịch vụ công có thể phân dịch vụ công thành ba loại: - Dịch vụ hành chính công: là dịch vụ gắn với chức năng quản lý hành chính nhà nước, thường do các cơ quan hành chính thực hiện.
- Dịch vụ sự nghiệp công: là hoạt động cung cấp các phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao… - Dịch vụ công ích: là hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ có tính kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân và cộng đồng, tạo ra cơ sở hạ tầng cơ bản cho sản xuất và sinh hoạt của các tổ chức và dân cư. Dịch vụ công ích bao gồm: vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch, thoát nước, vận tải công cộng, cấp điện, bưu chính.Những dịch vụ này không cung cấp miễn phí mà có thu phí nhưng chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước về định giá và sản lượng cung cấp. Dịch vụ công ích Theo khoản 4, điều 3 Nghị định 32/2019/NĐ-CP: “Sản phẩm, dịch vụ công ích là sản phẩm, dịch vụ mà việc sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí hoặc sản phẩm, dịch vụ có tính chất đặc thù; được Nhà nước trợ giá phần chênh lệch giữa giá tiêu thụ, giá sản phẩm dịch vụ theo quy định của Nhà nước hoặc 6 phần chênh lệch giữa số tiền do người được hưởng sản phẩm, dịch vụ công ích thanh toán theo quy định của Nhà nước, với chi phí hợp lý của nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích để sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng (hoặc giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành nếu có). Dịch vụ công ích vệ sinh môi trường Vệ sinh môi trường là các biện pháp nhằm cải tạo và làm sạch môi trường sống, góp phần bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Đó là các biện pháp được thực hiện để bảo đảm vệ sinh thực phẩm, vệ sinh nước sinh hoạt, vệ sinh công cộng, vệ sinh khi chôn cất người chết., như: xây dựng hệ thống cống rãnh thoát nước, thu gom và xử lí rác thải; cung cấp đầy đủ nước sạch cho người dân, không phóng uế và đổ rác bừa bãi, thường xuyên phun thuốc diệt muỗi, diệt côn trùng, chôn cất người chết tại các khu tập trung, xa khu dân cư… Như vậy, dịch vụ công ích VSMT là dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, vệ sinh công cộng.Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư cung cấp cho tổ chức, cá nhân (kể cả tổ chức, cá nhân trong và ngoài khu công nghiệp) bao gồm các hoạt động thu, dọn, vận chuyển, xử lý rác và chất phế thải; thoát nước, xử lý nước thải; bơm hút, vận chuyển và xử lý phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ thống thoát nước thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại các nhà vệ sinh lưu động và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác. Trong đó, thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.Vai trò quản lý dịch vụ vệ sinh môi trường Thứ nhất, QL về dịch vụ VSMT tạo ra các khuôn mẫu cho hành vi của các chủ thể tham gia vào dịch vụ. Các chủ thể tham gia dịch vụ VSMT bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đơn vị thực hiện cung cấp dịch vụ công ích VSMT; các cá nhân, tổ chức là người yêu cầu và hưởng thụ dịch vụ.
Mỗi chủ thể có tư cách khác nhau khi tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ công ích VSMT. Do đó, nếu để các chủ thể tự do thực hiện những hành vi mà họ mong muốn thì hành vi của chủ thể này có thể sẽ cản trở hoặc làm tổn hại đến quyền, nghĩa vụ hợp pháp của chủ thể khác, làm cho việc cung cấp dịch vụ công ích VSMT bị rối loạn, dịch vụ công sẽ phát triển theo hướng không theo mục đích điều chỉnh của nhà nước. Vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải ban hành pháp luật làm khuôn mẫu cho hành vi của các chủ thể, quy định quyền và nghĩa vụ phù hợp với từng chủ thể trong dịch vụ công ích VSMT. Với các chủ thể cung cấp dịch vụ, pháp luật quy định rõ phạm vi dịch vụ mà chủ thể được cung cấp hoặc tham gia cũng cấp, các yêu cầu, điều kiện cung cấp, chất lượng dịch vụ, đối tượng phục vụ cụ thể.
Thậm chí hoạt động Thứ hai, hoạt động quản lý dịch vụ VSMT chính là sự cam kết của nhà nước về việc cung cấp dịch vụ. Xuất phát từ bản chất nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Bởi vậy, nhà nước sẽ sử dụng pháp luật – hình thức phản ánh ý chí của nhà nước, phản ánh yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, để thể hiện sự cam kết của nhà nước về việc cung cấp các dịch vụ nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Nội dung các quy định của pháp luật thể hiện sự trương quan giữa nhu cầu của nhân dân với khả năng đáp ứng của các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ.
Nếu quy định của pháp luật lạc hậu hơn khả 8 năng đáp ứng của nhà nước về các dịch vụ công ích VSMT thì sẽ không thỏa mãn được nhu cầu của nhân dân và gây ra những trở ngại trong tiếp nhận, hưởng thụ dịch vụ. Ngược lại, nếu pháp luật quy định vượt quá khả năng cung ứng dịch vụ của nhà nước thì các quy định trở thành bất khả thi, vai trò điều chỉnh của pháp luật không được phát huy, dễ tạo ra những lộn xộn trong cung cấp và hưởng thụ dịch vụ công ích, gây mất niềm tin trong dân chúng. Thứ ba, thông qua việc quy định các điều kiện hoạt động của các chủ thể tham gia dịch vụ VSMT, nhà nước không chỉ giải quyết tình trạng gây ô nhiễm môi trường từ chính các hoạt động của con người mà từ chính hoạt động này còn thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ VSMT theo hướng hiện đại hơn về công nghệ, an toàn hơn trong hoạt động từ đó đạt hiệu quả cao hơn về kinh tế. Điều đó cũng có nghĩa là nhà nước sẽ tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các dịch vụ VSMT.
Thứ tư, hoạt động quản lý của nhà nước sẽ góp phần thay đổi và nâng cao nhận thức của cộng đồng theo hướng có lợi, bảo vệ môi trường. QL về dịch vụ VSMT sẽ định hướng cho cộng đồng về cách xử sự có lợi cho môi trường khi tiến hành các hoạt động có liên quan tới dịch vụ công ích VSMT.