Nghiên cứu khả năng hấp thụ chì và biểu hiện gen chịu chì của cây phát tài Dracaena sanderiana

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu khả năng hấp thụ tích lũy chì pb và sự biểu hiện gen liên quan đến tính chịu chì pb của, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

181
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu khả năng hấp thụ chì và biểu hiện gen chịu chì của cây phát tài (Dracaena sanderiana) được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và tích lũy chì (Pb) của loài thực vật này trong môi trường ô nhiễm. Mục tiêu chính là tìm hiểu cơ chế đáp ứng của cây đối với ô nhiễm chì, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc ứng dụng cây phát tài trong xử lý ô nhiễm chì. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết mà còn mang lại giá trị thực tiễn trong việc cải thiện môi trường sống.

1.1 Tình hình ô nhiễm chì

Ô nhiễm chì là một vấn đề nghiêm trọng trên toàn cầu, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái. Chì có thể xâm nhập vào môi trường qua nhiều nguồn khác nhau như công nghiệp, giao thông và nông nghiệp. Việc tìm kiếm các phương pháp xử lý ô nhiễm chì hiệu quả là rất cần thiết. Cây phát tài (Dracaena sanderiana) được lựa chọn trong nghiên cứu này do khả năng sinh trưởng tốt và khả năng hấp thụ chì cao, giúp giảm thiểu ô nhiễm trong môi trường.

II. Khả năng hấp thụ và tích lũy chì của cây phát tài

Nghiên cứu cho thấy cây phát tài có khả năng hấp thụ và tích lũy chì lên đến 39235 mg/kg trọng lượng khô trong môi trường có nồng độ chì 800 ppm. Sự sinh trưởng của cây không bị ảnh hưởng đáng kể ở nồng độ chì từ 200 đến 800 ppm, cho thấy cây có khả năng chịu đựng tốt với nồng độ chì này. Tuy nhiên, khi nồng độ chì vượt quá 1000 ppm, sự sinh trưởng của cây bị kìm hãm rõ rệt. Các chỉ tiêu như chiều cao cây, chiều dài rễ và sinh khối đều giảm đáng kể, cho thấy ngưỡng chịu đựng của cây phát tài đối với chì là rất quan trọng trong việc ứng dụng thực vật trong xử lý ô nhiễm.

2.1 Phân bố chì trong cây

Chì chủ yếu được tích lũy trong rễ cây, chiếm khoảng 97,5% tổng lượng chì hấp thụ. Sự dịch chuyển chì từ rễ lên thân và lá diễn ra chậm, cho thấy cây phát tài có cơ chế bảo vệ hiệu quả đối với độc tính của chì. Phân bố chì trong cây theo thứ tự giảm dần từ rễ đến thân và lá, điều này cho thấy cây phát tài có thể được sử dụng trong các phương pháp như phytofiltration và phytostabilization để xử lý ô nhiễm chì trong môi trường.

III. Biểu hiện gen chịu chì

Nghiên cứu cũng đã xác định được sự biểu hiện của ba gen chống oxy hóa: glutathione S-transferase (GST), Cyt-Cu/Zn superoxide dismutase (Cyt-Cu/Zn SOD) và glutathione peroxidase (GPX) trong cây phát tài. Mức độ biểu hiện của các gen này bị ức chế khi nồng độ chì vượt quá 1000 ppm. Sự tăng biểu hiện gen ở các nồng độ chì từ 200 đến 800 ppm cho thấy cây có khả năng phản ứng kịp thời với độc tố chì, giúp cây chống chịu tốt hơn với các tác động bất lợi.

3.1 Cơ chế biểu hiện gen

Gen GST biểu hiện mạnh ở thân và lá, trong khi gen Cyt-Cu/Zn SOD và GPX biểu hiện mạnh ở rễ, nơi có hàm lượng chì tích lũy cao nhất. Điều này cho thấy cây phát tài có cơ chế điều chỉnh biểu hiện gen linh hoạt để ứng phó với ô nhiễm chì. Sự biểu hiện gen này không chỉ giúp cây chống chịu tốt hơn mà còn có thể được ứng dụng trong nghiên cứu phát triển các giống cây trồng có khả năng chịu đựng ô nhiễm tốt hơn.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về khả năng hấp thụ chì và biểu hiện gen chịu chì của cây phát tài mà còn mở ra hướng đi mới trong việc sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm chì trong môi trường. Cây phát tài có thể được ứng dụng trong các dự án phục hồi môi trường, giúp cải thiện chất lượng đất và nước. Việc nghiên cứu sâu hơn về cơ chế sinh học của cây cũng có thể dẫn đến việc phát triển các giống cây trồng mới có khả năng chịu đựng ô nhiễm tốt hơn.

4.1 Ứng dụng trong xử lý ô nhiễm

Cây phát tài có thể được trồng trong các khu vực ô nhiễm chì để giảm thiểu tác động của chì đến môi trường. Việc áp dụng các phương pháp như phytofiltration và phytostabilization sẽ giúp cải thiện chất lượng đất và nước, đồng thời tạo ra môi trường sống an toàn hơn cho con người và sinh vật. Nghiên cứu này mở ra cơ hội cho việc phát triển các giải pháp bền vững trong xử lý ô nhiễm môi trường.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CÁC ĐẶC TÍNH CỦA CHÌ (Pb) VÀ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM Pb 1. Các đặc tính của Pb Chì là một nguyên tố hóa học thuộc nhóm 14 trong bảng tuần hoàn hóa học, có số nguyên tử là 82 và khối lượng nguyên tử là 207, viết tắt là Pb (Latin: Plumbum). Pb có hóa trị phổ biến là II, có khi là IV.

Pb tồn tại ở 2 dạng oxy hóa là 2 và 4. Pb là một KLN có độc tính cao, có ảnh hưởng nghiêm trọng trong môi trường sinh thái. Trong tất cả KLN gây độc, mức độ gây độc của Pb được xếp thứ 2 (ATSDR, 2007). Trong đất, Pb có thể tồn tại ở dạng ion KL tự do, tạo phức với các thành phần vô cơ (HCO3-, CO32-, SO42- và Cl-), kết hợp với các acid hữu cơ (như acid amin, acid fulvic và acid humic), hoặc có thể hấp phụ trên bề mặt các hạt (Fe- oxide, vật liệu sinh học và các hạt đất sét) (Vega và ctv, 2010).

Sự di động của Pb trong đất thường bị hạn chế bởi sự hấp phụ của sét, Fe, oxide mangan và hình thành các hợp chất có tính di động thấp như PbSO4, PbCO3 và Pb10(PO4)6Cl2. Pb thường tích tụ chủ yếu ở tầng đất mặt với nồng độ giảm dần theo độ sâu. Trong môi trường đất ở khu công nghiệp Bayonne - New Jersey, hàm lượng Pb được xác định trong đất bề mặt (0 - 15 cm) là 2.300 mg/kg; ở độ sâu 15 - 30 cm là 1.280 mg/kg và ở độ sâu 30 - 45 cm là 1. Trong môi trường nước, Pb có thể liên kết với các anion hữu cơ, chloride và hydroxide tạo các hợp chất không tan hoặc kết hợp với sulphite, sulphate, hydroxy carbonate và anion phosphate tạo các hợp chất ít tan.

Độ hòa tan của Pb trong nước phụ thuộc vào giá trị pH của nước, pH càng thấp thì khả năng hòa tan của Pb càng cao, khi pH trung tính thì Pb sẽ bị kết tủa (Kabata, 2001). Pb không có chức năng sinh học và gây độc đối cho sinh vật sống ở nồng độ rất thấp. Khi tiếp xúc Pb ở nồng độ 25 - 30 g, nạn nhân thấy vị ngọt rồi chát, nghẹn ở cổ, nôn ra chất trắng, đau bụng dữ dội, mạch yếu, tê chân tay, co giật và 7 tử vong. Khi cơ thể nhiễm độc Pb, thận bị tổn thương nặng, hemoglobin hồng cầu bị thoái hóa, gây viêm não dẫn đến co giật, liệt và hôn mê.

Phụ nữ mang thai khi tiếp xúc với Pb thường đẻ non, trẻ chết khi mới sinh. Ở nam giới, Pb gây tổn thương tinh hoàn, vô sinh, liệt dương (Trịnh Thị Thanh, 2007). Pb được dùng phổ biến trong cuộc sống và nhất là trong công nghiệp. Pb được dùng trong sơn công nghiệp, ắc quy Pb, nguyên liệu trong luyện kim Pb, làm chất xúc tác trong sản xuất polymer.

Sự ứng dụng rộng rãi của Pb đã gây ra ô nhiễm cho môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường đất. Trong môi trường, Pb tồn tại rất lâu dài và bền vững. Pb có thể được lưu giữ trong môi trường khoảng 150 - 5000 năm. Pb không thể được phân hủy sinh học, nếu không có biện pháp khắc phục, mức độ Pb trong môi trường cao sẽ không bao giờ trở lại bình thường (Vega và ctv, 2010).

Tình hình ô nhiễm Pb trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình ô nhiễm Pb trên thế giới Nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt với ô nhiễm KLN. He và ctv (2015) đã cho biết trên 10 triệu khu vực ô nhiễm thì có đến hơn 50% khu vực ô nhiễm KLN. Phần lớn các khu vực ô nhiễm KLN nằm ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Đức, Thụy Điển và Trung Quốc.

Trong 91 mẫu đất nông nghiệp ở San Francisco, có trên 62% mẫu đất nhiễm Pb. Ở các khu vực luyện kim, khai thác Pb ở Mỹ, hàm lượng Pb trong đất khoảng 1500 µg/g, gấp 15 lần so với mức bình thường. Hàm lượng Pb trong đất ở khu vực xung quanh nhà máy luyện kim ở Galena, Kansas (Mỹ) là 7600 µg/g. Hàm lượng Pb > 100 mg/kg trong đất ở nhiều nơi của Anh đã phản ánh tình trạng ô nhiễm Pb, hấu hết các mẫu đất ở 53 thành phố, thị xã có lượng Pb tổng > 200 mg/kg.

Đất ở nhiều vùng công nghiệp > 500 mg/kg (Meers và ctv, 2010). Ở Pháp, 11400 mẫu đất nông nghiệp đã được phát hiện ô nhiễm Pb. 700 km2 đất khu vực Campine ở Hà Lan và Bỉ bị ô nhiễm bởi sự lắng đọng của Pb (Meers và ctv, 2010). Các nước ở Châu Á cũng có tình trạng ô nhiễm Pb cao trên thế giới, trong đó đặc biệt là Trung Quốc với hơn 10% đất bị ô nhiễm Pb.

Ở Thái Lan, 8 154 cánh đồng lúa thuộc tỉnh Tak đã nhiễm Pb cao gấp 94 lần so với tiêu chuẩn (Lê Văn Khoa và ctv, 2003). Tình hình ô nhiễm Pb ở Việt Nam Ở Việt Nam, tình hình ô nhiễm Pb đã và đang diễn ra ngày càng trầm trọng. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy Pb có mặt ở khắp nơi với nồng độ khá cao như trong đất nông nghiệp, nước mặt, trầm tích, nước ngầm. Khi tiến hành khảo sát 39 mẫu đất và nước ở khu vực Đông Anh, Hà Nội (29 địa điểm thuộc 14 xã), Đỗ Thị Thanh Tâm và ctv (2011) đã phát hiện có 12 mẫu đất và 27 mẫu nước nhiễm Pb.

Trong các mẫu nước ngầm khảo sát, có nhiều mẫu có hàm lượng Pb vượt Quy chuẩn về nước ngầm. Điều này chắc chắn gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân nơi đây nếu như họ vẫn sử dụng chúng để ăn, uống hàng ngày vì Pb là một KL có khả năng tích lũy cao. Nhiều vị trí trên sông Nhuệ bị ô nhiễm Pb. Nồng độ Pb trong trầm tích sông Nhuệ vượt giới hạn của QCVN 43:2012/BTNMT đối với chất lượng trầm tích (Nguyễn Thị Lan Hương, 2014).

Theo Trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường tỉnh Đồng Nai (2015), môi trường đất ở một số khu vực tiếp nhận nguồn thải của khu công nghiệp (KCN) và khu vực phụ cận các bãi chôn lấp chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai bị ô nhiễm Pb. Hàm lượng Pb trong đất (cả 3 tầng 30 cm, 60 cm và 90 cm) ở KCN Biên hòa 1 vượt 3,3 - 4 lần và ở KCN Hố Nai vượt 2 lần so với tiêu chuẩn (Tạp chí môi trường –Tổng cục môi trường, 2015). Nói đến ô nhiễm Pb ở Việt Nam, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến các làng nghề tái chế KL vì đây là những nơi góp phần làm tăng thêm tình trạng ô nhiễm Pb trong nhiều năm nay. Đông Mai được xem là 1 trong 4 làng nghề gây ô nhiễm Pb trầm trọng nhất tỉnh Hưng Yên.

Nước bề mặt tại các con kênh, rạch quanh làng có nồng độ Pb cao gấp hàng nghìn lần so với tiêu chuẩn. 100% số mẫu đất khảo sát ở khu tái chế Pb ở thôn Đông Mai, Văn Lâm, Hưng Yên có hàm lượng Pb vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP là 100 ppm), hàm lượng Pb trong đất dao động từ 125,4 - 2166 ppm (Nguyễn Khánh Tân, 2016). Hàm lượng Pb trong 9 các mẫu đất nông nghiệp ở làng nghề tái chế Pb Xã Chỉ Đạo (Hưng Yên) rất cao (964 ppm - 7070 ppm), vượt hơn 100 lần so với TCVN 7209:2002 (70 ppm) (Đặng Thị An và ctv, 2008). Hàm lượng Pb trong đất tại làng nghề cơ kim khí Phùng Xá (Hà Tây) là 304,59 mg/kg (Nguyễn Khánh Tân, 2016).

Ở khu vực khai thác và chế biến Zn - Pb làng Hích (Thái Nguyên), hàm lượng Pb trong bãi thải cao nhất (5.200 ppm), tiếp đến là đất ruộng lúa (1271 - 3.953 ppm), bãi liền kề (164 - 904 ppm), (Đặng Thị An và ctv, 2008). Nước thải tại các làng nghề tái chế KL cũng có hàm lượng Pb cao. Hàm lượng Pb trong nước thải ở một số làng nghề tái chế KL như Chỉ Đạo-Bắc Ninh; Vân Chàng - Nam Định; Phước Kiều - Quảng Ninh; Xuân Tiến - Nam Định theo thứ tự là 0,35 ppm liên; 0,9 ppm; 0,6 ppm; 0,44 ppm đều vượt so với tiêu chuẩn (TCVN 5845-1995 - 0,1ppm). Việc sản xuất có quan đến Pb của các nhà máy, công ty đã làm cho môi trường đất, nước và không khí ở Việt Nam ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.

Để giải quyết vấn nạn này, việc tìm ra giải pháp hiệu quả trong xử lý Pb là vấn đề cấp bách. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THỰC VẬT XỬ LÝ Ô NHIỄM (PHYTOREMEDIATION) 1. Định nghĩa Phương pháp sử dụng thực vật xử lý ô nhiễm ra đời vào năm 1991 với tên gọi là phytoremediation. Ngay từ khi ra đời, phương pháp này được mô tả ngắn gọn trong nhiều bài viết với nhiều định nghĩa khác nhau.

Tuy nhiên, nhìn chung, nó được định nghĩa là một phương pháp sử dụng thực vật để loại bỏ các chất ô nhiễm (chất vô cơ và chất hữu cơ) ra khỏi các môi trường bị ô nhiễm (đất, nước mặt, nước ngầm, nước thải, bùn thải và cả môi trường không khí) (EPA, 2000). Định nghĩa này bao gồm tất cả các quá trình sinh học, hóa học, và vật lý ảnh hưởng đến việc hấp thụ, cô lập, phân hủy, và chuyển hóa các chất ô nhiễm bởi thực vật. Phân loại Phương pháp sử dụng thực vật xử lý ô nhiễm có thể được phân loại dựa trên cơ chế xử lý chất ô nhiễm của thực vật. Thực vật hấp thụ các chất ô nhiễm từ đất và tích lũy trong cây gọi là phương pháp hấp thụ và tích lũy (Phytoextraction); Thực vật tiết ra các hợp chất sinh học kết hợp với chất ô nhiễm và làm giảm khả năng di động và độc tính của chất ô nhiễm gọi là phương pháp cố định độc chất (Phytostabilization); Thực vật sản sinh các hợp chất sinh học phân hủy chất ô nhiễm gọi là phương pháp phân hủy chất ô nhiễm (Phytodegradation); Thực vật hấp thụ chất ô nhiễm đưa vào bên trong cây, sau đó biến đổi sang trạng thái hơi rồi giải phóng ra không khí theo quá trình thoát hơi nước gọi là phương pháp bay hơi (Phytovolatilization); Thực vật hấp thụ chất ô nhiễm và tích lũy trong vùng rễ gọi là phương pháp lọc độc chất (Rhizofiltration).

Đối với chất ô nhiễm là KLN, các phương pháp thích hợp sử dụng để loại bỏ là phương pháp hấp thụ và tích lũy; phương pháp lọc độc chất, phương pháp bay hơi và phương pháp cố định độc chất. Phương pháp hấp thụ và tích lũy (Phytoextraction) Là phương pháp sử dụng thực vật có khả năng hấp thụ và tích lũy chất ô nhiễm trong thân lá của cây để loại bỏ các chất ô nhiễm ra khỏi khu vực ô nhiễm thường là đất (EPA, 2000).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu khả năng hấp thụ chì và biểu hiện gen chịu chì của cây phát tài Dracaena sanderiana" cung cấp cái nhìn sâu sắc về khả năng hấp thụ chì của cây phát tài, một loài cây có tiềm năng trong việc xử lý ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trong điều kiện có chì mà còn phân tích biểu hiện gen liên quan đến khả năng chịu đựng của cây. Điều này có thể mở ra hướng đi mới trong việc sử dụng cây xanh để cải thiện chất lượng đất và môi trường.

Để tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến cây trồng và công nghệ sinh học, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án chọn tạo giống lúa hàm lượng amylose thấp bằng chỉ thị phân tử ssr trên quần thể lai hồi giao, nơi nghiên cứu về cải tiến giống lúa. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyển gen coda nhằm nâng cao khả năng chịu hạn của cây đậu tương glycine max l merrill cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp cải thiện khả năng chịu đựng của cây trồng. Cuối cùng, bạn có thể khám phá thêm về Luận án ứng dụng công nghệ sinh học xử lý rác hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp tỉnh sóc trăng, một nghiên cứu thú vị về ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các ứng dụng của công nghệ sinh học trong nông nghiệp và bảo vệ môi trường.