Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BHXH CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội và hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm xã hội tại cơ quan BHXH cấp huyện 1. Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội 1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội a.
Khái niệm: Có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm xã hội trên các góc độ khác nhau: Đứng dưới góc độ pháp luật, BHXH là một định chế bảo vệ NLĐ sử dụng nguồn đóng góp của người SDLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho NLĐ được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động hoặc hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc trong trường hợp NLĐ bị chết [9]. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO: bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an sinh xã hội [4]. Theo luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 01 tháng 01 năm 2016, bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ Bảo hiểm xã hội [10]. Bản chất của bảo hiểm xã hội BHXH là một phạm trù kinh tế-xã hội tổng hợp, là một trong những chính sách kinh tế - xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia.
Nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia. Về phương diện xã hội: BHXH là tất yếu khách quan, xuất hiện trong những điều kiện nhất định của quá trình phát triển kinh tế xã hội. Khi trình độ phát triển sản xuất ngày càng cao thì những rủi ro phát sinh càng nhiều và khả năng ảnh hưởng của rủi ro đến NLĐ ngày càng nghiêm trọng. Rủi ro trong BHXH bao gồm những rủi ro thuần túy, phát sinh ngẫu nhiên như ốm đau, tai nạn lao động … và cả những rủi ro về việc làm như lao động bị thất nghiệp.
Điều đó làm cho NLĐ ngày càng cần đến các hình thức chia sẻ rủi ro nói chung và BHXH nói riêng. Khi tham c 5 gia BHXH, sự chia sẻ rủi ro được thực hiện nhiều chiều, giữa những người SDLĐ với nhau và giữa Nhà nước, người sử dụng lao động với NLĐ. Thông qua BHXH, các rủi ro được chia sẻ cả về mặt không gian và thời gian, giữa những vùng, những ngành khách nhau và sự chia sẻ rủi ro này còn được thực hiện ngay nội bộ những NLĐ như giữa lao động nam và lao động nữ, giữa lao động trẻ khỏe với những người hay bị ốm đau, tai nạn,… Về phương diện kinh tế: Bảo hiểm xã hội là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm với nhau thông qua hình thành quỹ tiền tệ dùng để đáp ứng nhu cầu chi trả BH cho NLĐ và gia đình họ khi gặp rủi ro, góp phần đảm bảo cuộc sống cho họ và gia đình họ. Về phương diện pháp lý: BHXH khi được Nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật, đã trở thành quyền cơ bản của NLĐ, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế.
Đồng thời, nó cũng là trách nhiệm của bản thân NLĐ và người sử dụng lao động yêu cầu phải tham gia BHXH. Vì vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là một bộ phận cơ bản để đảm bảo an sinh xã hội, góp phần ổn định chính trị, xã hội. Chức năng của bảo hiểm xã hội Thứ nhất, BHXH đảm bảo bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập, góp phần ổn định đời sống của NLĐ. Đây chính là chức năng cơ bản của BHXH, được xác định trên cơ sở đối tượng của BHXH là thu nhập của NLĐ.
Khi thu nhập của họ bị giảm hoặc bị mất vì những rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm, họ sẽ được bù đắp từ quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp. Pháp luật BHXH quy định nếu NLĐ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp thì họ có quyền được hưởng BHXH. Chỉ khi thực hiện tốt chức năng này, BHXH mới thực sự là hình thức bảo hiểm thiết thực đối với NLĐ, có sức cuốn hút, thuyết phục họ tham gia rộng rãi và trở thành mạng lưới an toàn đầu tiên trong chính sách an sinh xã hội ở mỗi quốc gia [9]. Thứ hai, BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH.
Phân phối lại là chức năng chung của mọi hình thức bảo hiểm. Trên cơ sở đối tượng của BHXH là thu nhập của người LĐ mà BHXH xác định chức năng phân phối lại thu nhập giữa những người LĐ tham gia BHXH với nhau. Để thực hiện hình thức bảo hiểm này, người LĐ và người SDLĐ phải đóng một tỷ lệ trong tương quan với thu nhập của NLĐ vào một quỹ chung. Về nguyên tắc, nguồn này để đảm bảo thu nhập của mọi người tham gia bảo hiểm nếu họ gặp phải rủi ro.
Tuy nhiên, trong thực tế chỉ một số ít NLĐ không may gặp phải rủi ro được BHXH chi trả, vì thế mà c 6 BHXH đã thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập giữa những người may mắn, ít rủi ro với những người không may gặp rủi ro trong cuộc sống. Thứ ba, BHXH góp phần kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động XH. Khi khỏe mạnh tham gia lao động sản xuất, NLĐ được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động… đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị giảm hoặc bị mất, nhờ đó đời sống của bản thân và gia đình được đảm bảo ổn định.
Điều này giúp NLĐ yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc, tích cực tham gia lao động sản xuất, từ đó nâng cao năng suất lao động. Thứ tư, BHXH góp phần thu hút lao động, hình thành và phát triển thị trường lao động, gắn bó lợi ích giữa NLĐ với người sử dụng lao động và xã hội. Ngoài ra, trong quá trình hình thành và phát triển, BHXH còn thực hiện chức năng điều hòa mâu thuẫn về tiền lương, tiền công và thời gian lao động giữa người sử dụng lao động và NLĐ, làm cho các bên có trách nhiệm với nhau hơn, từ đó gắn bó lợi ích với nhau, cùng hợp tác và phát triển cùng có lợi [9]. Quỹ Bảo hiểm xã hội a.
Khái niệm và đặc điểm của quỹ Bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài NSNN, có mục đích và chủ thể riêng. Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để trợ cấp cho NLĐ, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp rủi ro hoặc biến cố bảo hiểm. Chủ thể quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để hình thành quỹ, đó có thể là NLĐ, người sử dụng lao động và Nhà nước[7], [9]. Quỹ có đặc điểm: Quỹ BHXH ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho người LĐ và gia đình họ.
Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời, vì vậy nguyên tắc của quản lý quỹ là đảm bảo cân bằng thu - chi. Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung, tồn tại trong một thời gian dài, luôn vận động và biến đổi, thường có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn. Quỹ BHXH được tạo lập từ sự đóng góp của người tham gia BHXH nên có quy mô rất lớn. Càng nhiều người tham gia hình thành quỹ thì càng có nhiều người được hưởng quyền lợi phân phối từ quỹ khi gặp rủi ro.
Quỹ BHXH được tích lũy trong suốt thời gian tham gia BHXH nên tại một thời điểm nào đó sẽ có một lượng tiền nhàn rỗi để chi trả trong tương lai. Nếu sử dụng quỹ có hiệu quả sẽ vừa đảm bảo khả năng chi trả kịp thời cho người thụ hưởng vừa tham gia đầu tư để bảo toàn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính quỹ. c 7 Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ NLĐ là đối tượng tham gia đóng góp cũng đồng thời là đối tượng được hưởng trợ cấp, quyền lợi chi trả từ quỹ BHXH.
Tuy nhiên thời gian trợ cấp và mức trợ cấp mỗi người sẽ khác nhau, tùy thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp phải, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng BHXH, nhưng có người được hưởng trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau, có người hưởng ít lần hơn, thậm chí không được hưởng trợ cấp. Do đó, số tiền hưởng trợ cấp thường lớn hơn nhiều lần so với mức đóng góp. Nguồn hình thành và mục đích sử dụng của quỹ Bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH được hình thành từ đóng góp của người SDLĐ, NLĐ, từ hỗ trợ thêm của Nhà nước, lãi từ khoản tiền đầu tư quỹ nhàn rỗi và các nguồn khác như cá nhân hoặc tổ chức từ thiện ủng hộ[10]. Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho các mục đích chi trả trợ cấp các chế độ BHXH, chi phí quản lý BHXH và một số khoản chi khác có liên quan đến NLĐ và hoạt động của cơ quan BHXH.
Trong đó, chi trả các chế độ BHXH là lớn nhất và quan trọng nhất. Khoản chi này được thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH. Về nguyên tắc, có thu mới có chi, thu trước chi sau. Vì vậy, quỹ BHXH chỉ chi cho các chế độ có trong phạm vi thu, về nguyên tắc thu ở chế độ nào thì chi ở chế độ ấy.
Ngoài ra, quỹ BHXH còn có một bộ phận dự phòng và bộ phận này được sử dụng để chi phí cho hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi để đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ. Chi phí quản lý cũng là một khoản chi tất yếu, song phải được quản lý chặt chẽ và tiết kiệm [9]. Khái quát chung về chi Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam a.