Chương 1; các biện pháp phòng ngừa tra tấn được mô tả cụ thể trong Chương 4, trong đó tập trung vào những người bị giam giữ; các biện pháp cần thiết để khắc phục hậu quả của tra tấn được nêu trong Chương 7 của tài liệu. “The Fight against Torture: The OSCE Experience” (tạm dịch: Cuộc chiến chống tra tấn: Kinh nghiệm của Tổ chức An ninh và hợp tác châu Âu) của Văn phòng Tổ chức An ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), năm 2009 [188]. Cuốn sách phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tra tấn, hệ thống pháp luật và các hoạt động của OSCE về chống tra tấn tại châu Âu cùng những khó khăn, trở ngại và bài học kinh nghiệm trong chiến lược PCTT. 17 “Preventing Torture: An Operational Guide for National Human Rights Institutions” (tạm dịch: Phòng ngừa tra tấn: Hướng dẫn hoạt động cho các Tổ chức Nhân quyền Quốc gia) do Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương của các Tổ chức Nhân quyền Quốc gia (APF), Hiệp hội Phòng, chống tra tấn (APT) và Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ (OHCHR) ấn hành năm 2010 [164].
Tài liệu này phân tích khái niệm, cơ sở pháp lý và các hoạt động thúc đẩy xây dựng các cơ chế kiểm soát phòng ngừa tra tấn, trong đó nhấn mạnh: Tra tấn là hoàn toàn bị nghiêm cấm và không bao giờ có thể được biện minh trong bất kỳ trường hợp nào; Luật tập quán quốc tế áp dụng cho tất cả các quốc gia và với mọi đối tượng, không cho phép ngoại lệ với điều cấm này trong bất kỳ trường hợp nào, ngay cả tình trạng chiến tranh, nguy cơ chiến tranh, bất ổn chính trị nội bộ hoặc tình trạng khẩn cấp công cộng. “Torture in Asia: The Law and Practice” (tạm dịch Tra tấn ở Châu Á: Luật pháp và thực tiễn) của Tổ chức phi chính phủ REDRESS (Hồng Kông) và Ủy ban Nhân quyền châu Á, năm 2013 [190]. Đây là ấn phẩm được biên soạn trên cơ sở cuộc họp các chuyên gia về tra tấn trong khu vực tại Hồng Kông từ ngày 21 đến 23 tháng 9 năm 2011. Ấn phẩm tổng hợp các nghiên cứu về tra tấn, khuôn khổ pháp lý và thực tiễn chống tra tấn tại một số quốc gia ở châu Á, bao gồm: Bangladesh, Campuchia, Đông Timor, Ấn Độ, Indonesia, Kazakhstan, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka và Thái Lan.
Các tác giả đều thống nhất rằng, những thách thức đối với việc thực hiện cấm tra tấn là rất nhiều, đòi hỏi nỗ lực trong phối hợp và sẵn sàng thực hiện những cải cách cơ bản về luật pháp và thể chế để thiết lập một khuôn khổ pháp lý và thể chế đầy đủ. Mặc dù bản chất và nội dung của những cải cách đặt ra có thể khác nhau giữa các quốc gia, nhưng cần phải có một cách tiếp cận toàn diện để thúc đẩy việc cấm tuyệt đối tra tấn. Các công trình nghiên cứu trong nước Cùng với quá trình đổi mới, xây dựng NNPQ XHCN, bảo đảm và thúc đẩy QCN là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thể hiện qua nhiều văn kiện như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) [29]; Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 18 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII [27]; Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg ngày 02/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ [131]; đặc biệt là Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về công tác nhân quyền trong tình hình mới [28]. Trên cơ sở đó, nhiều cơ quan học thuật và chuyên gia trong nước đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về QCN và pháp luật Việt Nam về QCN nhằm kịp thời thể chế hoá các quan điểm, chủ trương trên.
Tuy vậy, so với nhiều vấn đề chính trị - pháp lý khác, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về PCTT ở Việt Nam hiện chưa nhiều. Mục dưới đây khảo sát một số công trình tiêu biểu, chia thành các nhóm như sau: 1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tra tấn Ở Việt Nam, kể từ khi khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29/11/1991) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng năm 1994 cũng như trong các văn kiện sau này, đã có nhiều công trình nghiên cứu về NNPQ XHCN Việt Nam, trong đó có xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, một số công trình tiêu biểu như: Đề tài khoa học cấp Bộ “Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch và hiệu quả trong NNPQ Việt Nam” [74] và “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản của việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020” do PGS. Nguyễn Như Phát chủ nhiệm năm 2011 [75]; Đề tài KX.05 “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân” do TS.
Nguyễn Đức Khiển chủ nhiệm năm 2004 [62]; Sách chuyên khảo “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Lê Minh Tâm - Nxb Công an nhân dân, năm 2003 [122]; “Đổi mới, hoàn thiện bộ máy NNPQ XHCN của Nhân dân,do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Lê Minh Thông, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2011 [130]; “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN” của PGS. Nguyễn Minh Đoan, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2011 [33]; 19 Các công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích khái niệm pháp luật, vai trò của pháp luật trong NNPQ trong từng giai đoạn, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay và nêu ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng NNPQ và hội nhập quốc tế. Các công trình trên có giá trị tham khảo đối với tác giả khi nghiên cứu đề tài theo góc độ tiếp cận về hoàn thiện pháp luật Việt Nam, đặc biệt là xác định khung tiêu chí hoàn thiện pháp luật theo định hướng xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Cùng với xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam, những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về bảo đảm QCN là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học.
Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu được xuất bản, công bố ở Việt Nam trong thời gian qua, tiêu biểu như: Đề tài “Các điều kiện đảm bảo QCN, QCD trong sự nghiệp đổi mới đất nước” trong Chương trình “Con người, mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”, mã số KX.07/91-95 do GS Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm, năm 1995 [42]. Đề tài đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận về QCN như: khái niệm, lịch sử phát triển và những nội dung cơ bản của QCN; thực trạng việc vi phạm QCN trên thế giới cũng như các điều kiện bảo đảm QCN. Sau đề tài này, vấn đề QCN tiếp tục được nhiều nhà khoa học nghiên cứu với nhiều công trình khoa học khác, như: sách chuyên khảo “QCN trong thế giới hiện đại” của tác giả Phạm Khiêm Ích và Hoàng Văn Hảo chủ biên, năm 1995 [60]; “Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại” của tác giả Chu Hồng Thanh chủ biên, năm 1996 [125]; “Bảo vệ và thúc đẩy QCN ở Việt Nam” của Bộ Ngoại giao Việt Nam, năm 2005 [15]; “Góp phần tìm hiểu QCN” của tác giả Phạm Văn Khánh, năm 2006 [61]; “Triết học chính trị về QCN” của tác giả Nguyễn Văn Vĩnh chủ biên, năm 2006 [155]; “QCN, tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội” của tác giả Võ Khánh Vinh chủ biên, năm 2009 [152]; “Hỏi đáp về QCN” của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2010 [66]; “QCN – Tập tài liệu chuyên đề của LHQ” của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2010 [67]; “Tư tưởng về QCN – Tuyển tập tư liệu thế giới và Việt Nam” của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2011 [68]; “Dân chủ nhân quyền giá trị toàn cầu và đặc thù quốc gia” của Hội đồng Lý luận trung ương, năm 2011 [56]; “QCN, lý luận và thực tiễn” 20 của Viện nghiên cứu QCN – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2014 [151]; “Hỏi đáp về QCN, quyền và nghĩa vụ của công dân” của tác giả Vũ Công Giao chủ biên, năm 2016 [38]. Các công trình khoa học trên đã tập trung phân tích, luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về QCN như: nguồn gốc, khái niệm của QCN, các quan điểm khác nhau về QCN trong lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN và các điều kiện cần thiết bảo đảm QCN.
Những công trình trên đã đặt cơ sở phương pháp luận cho việc triển khai nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về QCN. Sách chuyên khảo “QCN, QCD trong NNPQ XHCN Việt Nam” của GS Trần Ngọc Đường, năm 2011 [36]. Cuốn sách nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận về QCN trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam, trong đó xác định NNPQ XHCN coi con người với các quyền cơ bản là giá trị cao quý, là mục tiêu phấn đấu cao nhất để không ngừng bảo đảm thực thi tốt nhất trong thực tế các QCN, QCD là đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ở góc độ nghiên cứu pháp luật về QCN, một số cơ sở đào tạo đã biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy về pháp luật QCN, điển hình như: Giáo trình “Lý luận và pháp luật về QCN” của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2009 (chỉnh lý, tái bản năm 2015) [26]; Giáo trình “Lý luận và pháp luật về QCN” của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2018 [54].
Các giáo trình trên ngoài việc giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về QCN, đồng thời đã tập trung giới thiệu sự phát triển pháp luật QCN trong lịch sử nhân loại, luật quốc tế về QCN, Hiến pháp, pháp luật Việt Nam về QCN, nhất là các điều kiện và cơ chế quốc tế và quốc gia bảo đảm QCN.