Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ 1. Quan niệm về người lao động di trú 1. Khái niệm “người lao động di trú” Theo Từ điển tiếng Việt, “di trú” có nghĩa là: (1) dời đến ở nơi khác, (2) (hiện tượng một số loài chim, thú) hàng năm chuyển đến sống ở nơi ấm áp, để tránh rét; “di cư” có nghĩa là: (1) dời đến ở một miền hay một nước khác để sinh sống, (2) như di trú [27]. Như vậy, “di trú” và “di cư” đều có nghĩa là đến ở nơi khác và có thể hiểu như nhau.
Ngoài ra, khái niệm “di trú” mang tính tạm thời ở nơi khác, còn khái niệm “di cư” mang tính dứt khoát, đi ở nơi khác. Trên thực tế hai khái niệm “di trú” và “di cư” không có sự phân biệt rõ ràng. Cũng là thuật ngữ “Migrant worker” nhưng khi dịch sang tiếng Việt có hai cách dịch khác nhau. Theo Tổ chức di cư quốc tế tại Việt Nam “Migrant worker” được dịch là người lao động di cư, bên cạnh đó theo nhiều sách nghiên cứu thì thuật ngữ này được dịch là người lao động di trú.
Theo từ điển Oxford advanced learner’s dictionary, “Migrant” có nghĩa là một người chuyển từ nơi này đến nơi khác để tìm việc hoặc một loài chim, một loài động vật chuyển từ nơi này đến nơi khác theo mùa. Như vậy, “Migrant worker” dịch là người lao động di trú sẽ hợp lý hơn, thể hiện tính tạm thời di chuyển của người lao động để tìm việc, phân biệt với người di cư di chuyển để tìm nơi ở mới. Nhìn chung, về mặt ngôn ngữ, người lao động di trú được hiểu là người lao động tạm thời di chuyển từ vùng này sang vùng khác để tìm việc. Có thể là di chuyển từ vùng này đến vùng khác trong phạm vi biên giới của một quốc gia hoặc là di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở cấp độ quốc tế, khái niệm người lao động di trú theo Công ước ICRMW được nhiều nước công nhận. Điều 2 Công ước ICRMW định nghĩa: Người lao động di trú (Migrant worker) là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân[19]. Như vậy, khái niệm người lao động di trú trong Công ước ICRMW không bao hàm người lao động đến làm việc ở nơi khác vẫn thuộc nước mà người đó là công dân. Điều này có thể do các nguyên nhân sau: Thứ nhất, do Công ước ICRMW là văn bản pháp lý quốc tế.
Vì vậy, phạm vi điều chỉnh của Công ước chỉ liên quan đến những vấn đề mang tính chất quốc tế. Người lao động di chuyển trong phạm vi một quốc gia là vấn đề mang tính nội bộ của quốc gia đó nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của Công ước. Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm của người lao động di trú là những người dễ bị tổn thương khi họ phải xa tổ quốc để đến một nước khác làm việc. Họ không phải là công dân của nước đến nên không được hưởng các quyền công dân ở nước sở tại.
Đồng thời, họ phải đối mặt với những khó khăn nảy sinh tại quốc gia nơi họ đến như bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, tập quán,… Ngay cả người lao động di trú “sẽ” làm việc ở một nước khác cũng gặp phải những vấn đề khó khăn như: họ phải lo các chi phí học tiếng, học nghề, phương tiện đi sang nước khác làm việc, ký kết hợp đồng làm việc, đặt cọc tiền…Thực tế cho thấy, nhiều người đã phải cầm cố toàn bộ tài sản trong nước thậm chí là đi vay tiền để lo các chi phí chuẩn bị đi lao động ở nước ngoài, nhiều trường hợp bị lừa hết tiền mà vẫn không được đi; Cũng có những trường hợp do không hiểu biết nên đã ký hợp đồng bất lợi cho mình…Chính vì vậy, Công ước ICRMW ra đời để đưa ra các biện pháp bảo vệ người lao động di trú và trong nhiều trường hợp Công ước ICRMW cũng bảo vệ quyền của các thành viên trong gia đình người lao động di trú. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh đó, Điều 3 Công ước ICRMW cũng liệt kê những đối tượng không được coi là người lao động di trú, cụ thể như sau: - Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tổ chức quốc tế, hoặc những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước sang một nước khác để thực hiện các chức năng chính thức mà việc tuyển dụng đó và địa vị của người đó đã được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế chung hoặc các hiệp định hay công ước cụ thể; - Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước hoặc người thay mặt cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và các chương trình hợp tác khác mà việc tiếp nhận và địa vị của người đó được điều chỉnh theo thỏa thuận với quốc gia nơi có việc làm và theo thỏa thuận này người đó không được coi là người lao động di trú; - Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia gốc để làm việc như những nhà đầu tư; - Những người tị nạn và không có quốc tịch, trừ khi việc áp dụng Công ước được quy định trong pháp luật của quốc gia liên quan, hoặc các văn kiện quốc tế đang có hiệu lực đối với quốc gia thành viên liên quan; - Sinh viên và học viên; - Những người đi biển hay người làm việc trên các công trình đi biển không được nhận vào cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng lương ở quốc gia nơi có việc làm. Nhìn chung, khái niệm người lao động di trú trong Công ước ICRMW khá rộng, nó không phụ thuộc vào người lao động đó đã làm việc ở nước khác chưa, công việc họ làm là gì và việc làm đó có được pháp luật của các nước công nhận hay không. Điều này cho thấy sự quan tâm chủ yếu của Công ước là người lao động di trú và các biện pháp bảo vệ họ hơn là các biện pháp để quản lý họ.
Hiện nay, Công ước ICRMW có 46 thành viên [34], là văn kiện 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp lý quốc tế có ảnh hưởng rộng nhất trong việc giải quyết vấn đề người lao động di trú. Các quy định của công ước được xem là nguyên tắc chung để xây dựng các văn bản pháp lý khác về cùng vấn đề người lao động di trú. Chính vì lẽ đó, trong phạm vi luận văn này, khái niệm người lao động di trú được hiểu theo định nghĩa tại Công ước ICRMW. Điều đó có nghĩa là, luận văn sẽ nghiên cứu cả đối tượng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và cả người lao động nước ngoài ở Việt Nam theo con đường xuất khẩu lao động (hợp pháp) và theo con đường bất hợp pháp.
Việt Nam chưa tham gia Công ước ICRMW, và trong pháp luật Việt Nam chưa có văn bản nào sử dụng khái niệm “người lao động di trú”. Tuy nhiên, đối chiếu với định nghĩa của Công ước ICRMW thì pháp luật Việt Nam đã có một số văn bản điều chỉnh về người lao động di trú như: Bộ Luật lao động năm 2012, Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05/9/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Theo Điều 6 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được xếp vào bốn nhóm theo loại hợp đồng: Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; Hợp đồng cá nhân. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo khoản 1, Điều 2, Nghị định số 102/2013/NĐ-CP, lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam là công dân nước ngoài vào làm việc các hình thức sau đây: - Thực hiện hợp đồng lao động; - Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp; - Thực hiện các loại hợp đồng hoặc thỏa thuận về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học kỹ thuật, văn hóa, thể thao, giáo dục, dạy nghề và y tế; - Nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng; - Chào bán dịch vụ; - Làm việc cho tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam được phép hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam; - Tình nguyện viên; - Người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại; - Nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật; - Tham gia thực hiện các gói thầu, dự án tại Việt Nam.
Nếu căn cứ vào quy chế pháp lý thì lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thể được chia thành hai loại cơ bản, đó là lao động nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động nước ngoài và lao động nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động Việt Nam. Về cơ bản, pháp luật Việt Nam đã quan tâm đến người lao động di trú là những đối tượng xuất khẩu lao động theo con đường hợp pháp tức là cả người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo con đường hợp pháp mà chưa có quy định về người lao động di trú bất hợp pháp. Đặc điểm của người lao động di trú Thứ nhất, người lao động di trú thường đến từ các nước nghèo, kém 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển. Do điều kiện kinh tế của nước xuất xứ khó khăn, thiếu việc làm hoặc mức thu nhập ở trong nước thấp, người lao động di trú muốn có cơ hội làm việc và tăng thu nhập để trang trải cho cuộc sống của bản thân và gia đình vì vậy họ tìm cách ra nước ngoài làm việc.