Chương 1: Cơ sở pháp lý về quyền của các dân tộc thiểu số Chương 2: Thực trạng xây dựng và thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm dân tộc Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài ngƣời. Trƣớc khi dân tộc xuất hiện, loài ngƣời đã trải qua trải qua các hình thái cộng đồng đồng từ thấp đến cao nhƣ bộ lạc, bộ tộc.
Dân tộc là loại hình của cộng đồng ngƣời xã hội hiện đại (xã hội tƣ bản, XHCN). Theo các nhà Mác - xít, Dân tộc là một cộng đồng ngƣời hình thành từ các bộ lạc, mà liên minh bộ lạc là bƣớc khởi đầu. Dân tộc ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nƣớc. Theo đó, rõ ràng có nhiều loại dân tộc: dân tộc Chiếm nô, dân tộc Phong kiến, dân tộc Tƣ bản, dân tộc Xã hội chủ nghĩa.
Theo cách hiểu về Dân tộc tƣ bản chủ nghĩa của J. Stalin: Dân tộc là khối cộng đồng ngƣời ổn định, hình thành trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa [14] Cho đến nay, khái niệm dân tộc đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa đƣợc dùng phổ biến nhất và cũng thƣờng xuyên có sự lẫn lộn, đó là dân tộc (Nation/Quốc gia) và dân tộc (Ethnie/Tộc ngƣời). Tuy nhiên, có thể lý giải hai khái niệm này nhƣ sau: Nghĩa thứ nhất: Dân tộc (Nation/Quốc gia) là một cộng đồng chính trị - xã hội, đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, có một tên gọi, một ngôn ngữ hành chính (trừ trƣờng hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu tƣợng văn hóa chung, tạo nên một tính cách dân tộc. Nghĩa thứ hai: Dân tộc (Ethnie/Tộc ngƣời) là một cộng đồng mang tính tộc ngƣời, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ, đƣợc liên kết với nhau bằng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những giá trị sinh hoạt văn hóa tạo thành một tính cách tộc ngƣời, có chung một ý thức tự giác tộc ngƣời, tức là chung một khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận thể hiện ở những ký ức lịch sử.
Một tộc ngƣời không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng sinh hoạt kinh tế, có thể ở các quốc gia dân tộc khác nhau [14]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Khái niệm dân tộc (Nation- Ethnie) [41] đƣợc định nghĩa nhƣ sau: + Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu do do sự tập hợp của nhiều bộ lạc liên minh, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc ngƣời (ethnie) của bộ phận tộc ngƣời. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác nhau. Bƣớc vào giai đoạn công nghiệp rõ rệt nhất là ở các nƣớc phƣơng Tây, do yêu cầu xóa bỏ tính cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc nhằm tạo ra một thị trƣờng thống nhất, nên cộng đồng dân tộc đƣợc kết cấu chặt chẽ hơn.
Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa trong khu vực và bản thân. + Dân tộc (Ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc ngƣời, ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana, Mƣờng, Thái, H'Mông… Các cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau đƣợc liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc ngƣời. Theo định nghĩa này, Việt Nam vừa là dân tộc mang hàm nghĩa quốc gia - dân tộc vừa là một quốc gia kết hợp của nhiều tộc ngƣời. Hay nói cách khác Dân tộc Việt Nam là quốc gia bao gồm nhiều dân tôc/tộc ngƣời hợp lại.
Để hiểu rõ hơn về dân tộc - tộc ngƣời, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận rộng rãi 5 tiêu chí sau để xác định thế nào là dân tộc (ethnic) [11]: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Có cùng tiếng mẹ đẻ (có ngôn ngữ tộc ngƣời thống nhất); - Có cùng một khu vực lãnh thổ (có lãnh thổ tộc ngƣời thống nhất); - Có nền kinh tế tộc ngƣời thống nhất; - Có các đặc trƣng văn hoá thống nhất/văn hoá tộc ngƣời; - Có Ý thức tự giác tộc ngƣời thống nhất. Các nhà Dân tộc học Xô Viết đã dùng bốn tiêu chí để xác định thành phần dân tộc ở Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết: - Cùng cƣ trú trên một phạm vi lãnh thổ nhất định, - Cùng nói một ngôn ngữ, - Có chung các đặc điểm văn hóa, - Có cùng ý thức dân tộc hay là tự giác dân tộc. Ở Việt Nam, tiêu chí xác định dân tộc bắt đầu đƣợc đề cập từ 1960. Năm 1973 tại Hà Nội đã tiến hành hai cuộc Hội thảo khoa học (vào tháng 6 và tháng 11).
Các hội thảo đã thống nhất lấy dân tộc (tộc ngƣời) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam. Ba tiêu chí để xác định dân tộc/tộc ngƣời, đƣợc thống nhất sử dụng: - Có tiếng nói chung (ngôn ngữ mẹ đẻ), - Có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa (đặc trƣng văn hóa), - Có ý thức tự giác nhận mình cùng một dân tộc. Xét theo các tiêu chí này, Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau. Trên thế giới, dân tộc (tộc ngƣời) đƣợc dùng với nhiều thuật ngữ nhƣ: Dân tộc bản địa (Thổ dân, dân bản xứ), dân tộc thiểu số, dân tộc đa số.
Ở Việt Nam hiện nay, nhiều thuật ngữ đã và đang đƣợc dùng để nói về dân tộc ở Việt Nam nhƣ: "dân tộc Việt Nam", "các thành phần dân tộc Việt Nam", "cộng đồng các dân tộc Việt Nam", "dân tộc đa số" và “dân tộc thiểu số". Ngay cả ở nhiều bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh trong rất nhiều bài viết và nói cũng đã dùng các thuật ngữ này nhằm bao quát cả hai nghĩa dân tộc - 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc gia (Dân tộc Việt Nam) và dân tộc - tộc ngƣời (dân tộc Kinh, Tày, Nùng. Tùy vào từng hoàn cảnh mà dân tộc Việt Nam đƣợc hiểu theo mỗi nghĩa khác nhau, nhƣng phổ biến nhất vẫn dùng để nói đến các thành phần dân tộc trên đất nƣớc Việt Nam. Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề dân tộc - quốc gia, dân tộc - tộc ngƣời.
Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, tác giả không đi sâu vào phân tích khái niệm dân tộc theo nghĩa dân tộc - quốc gia, mà nhìn nhận phạm trù dân tộc theo nghĩa dân tộc - tộc ngƣời. Quan niệm về dân tộc thiểu số của cộng đồng quốc tế "Dân tộc thiểu số" là một trong những nội hàm của "ngƣời thiểu số" nói chung đƣợc quốc tế ghi nhận. Không có khái niệm DTTS nói riêng mà nó đƣợc nhìn nhận là một trong những hình thái cộng đồng ngƣời thiểu số, bên cạnh những ngƣời thiểu số về chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ. Không có khái niệm chính thức nào về "Dân tộc thiểu số" nói riêng cũng nhƣ "ngƣời thiểu số" nói chung đƣợc quốc tế công nhận.
Các quan điểm về vấn đề ngƣời thiểu số, trong đó bao hàm cả ngƣời thiểu số về dân tộc là chủ đề của những cuộc tranh luận trong nhiều diễn đàn về bảo vệ Ngƣời thiểu số. Vào năm 1977 báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban chống phân biệt đối xử và bảo vệ ngƣời thiểu số là ông Francesco Capotorti đã đƣa ra định nghĩa về ngƣời thiểu số trong báo cáo nghiên cứu của mình nhƣ sau: " là một nhóm ngƣời, xét về mặt số lƣợng, ít hơn phần dân cƣ còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm- mà đang là kiều dân của một nƣớc- có những đặc trƣng về chủng tộc, tín ngƣỡng hoặc ngôn ngữ khác so với phần dân cƣ còn lại và chứng tỏ rõ ràng là có một ý thức thống nhất trong việc bảo tồn nền văn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên nỗ lực của Tiểu ban trong việc bảo vệ ngƣời thiểu số đã bị một số quốc gia có tƣ tƣởng ủng hộ quá trình hợp nhất, và một số quốc gia đang thúc đẩy 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự đồng hóa phản đối, vì thế Tiểu ban này vẫn chƣa thể đi đến một định nghĩa chính thức về ngƣời thiểu số. Sau khoảng thời gian dài các quan niệm về ngƣời thiểu số tiếp tục đƣợc tranh luận gay gắt.
Các quốc gia Bắc Mỹ và Nam Mỹ là các quốc gia ủng hộ việc hợp nhất giữa ngƣời thiểu số vào cộng đồng chung, các quốc gia Châu Âu có tƣ tƣởng đồng hóa ngƣời thiểu số, các nƣớc Đông Âu lại thể hiện sự quan tâm đến việc bảo vệ ngƣời thiểu số, nên tất cả các luồng ý kiến không thể đi đến thống nhất, cho đến vào năm 1984, Ủy ban nhân quyền đã yêu cầu Tiểu ban về vấn đề ngƣời thiểu số định nghĩa thuật ngữ ngƣời thiểu số, để định nghĩa thuật ngữ này với mục đích giới hạn, thu hẹp phạm vi đối tƣợng là ngƣời thiểu số, nhằm mục đích tạo sự đồng thuận của nhiều quốc gia, một thành viên của Tiểu ban này là ông Julet Deschenes ngƣời Canada đã đƣa ra một định nghĩa về ngƣời thiểu số nhƣ sau: "Một nhóm các công dân của một quốc gia, tạo thành thiểu số về số lƣợng và có vị thế không chiếm ƣu thế trong quốc gia đó, mang những đặc trƣng về chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ phân biệt với nhóm thuộc đa số dân cƣ, có một ý thức thống nhất giữa các thành viên, một động cơ rõ rệt cho dù là mặc định bởi một ý nguyện tập thể nhằm tồn tại với mục tiêu là đạt đến sự bình đẳng với đa số dân cƣ, cả trên phƣơng diện pháp luật và thực tiễn". Ngoài ra định nghĩa này không bao gồm (i) cƣ dân bản địa; (ii) Ngƣời không phải công dân nƣớc sở tại và (iii) ngƣời thuộc thành phần đa số nhƣng bị áp bức.