Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về nghiệp vụ bảo đảm tiền vay 1. Khái quát về ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau và cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng. Cùng với sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật, kinh tế và xã hội, nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng qua thời gian. Hoạt động của Ngân hàng thương mại cũng có nhiều phương thức mới, tuy nhiên các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản vẫn không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tư.
Ở Việt Nam, theo pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ban hành ngày 24/05/1990 thì “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán [12, 1]”. Theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM thì “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật [8, 2]”. Và theo Luật Ngân hàng nhà nước, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội ban hành ngày 16/06/2010: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng, theo tính chất và mục tiêu hoạt động [13, 2]”, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng 4 hợp tác xã; và “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận [13, 2]”.
Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay đầu tư phát triển kinh tế.2 Các chức năng của ngân hàng thương mại - Chức năng trung gian tín dụng: Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
- Chức năng tạo tiền: Bản thân các ngân hàng thương mại trong quá trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch. - Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khác thu khác theo lệnh của họ. - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của ngân hàng thương mại nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại - Nghiệp vụ nợ: Hoạt động của NHTM dựa chủ yếu trên nguồn vốn huy động còn nguồn vốn tự có của NHTM là rất nhỏ, nó chỉ là tấm đệm để hạn chế những rủi ro. Số vốn huy động tại các NHTM chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau 5 như: lãi suất, tình hình kinh tế xã hội, cách thức gửi tiền và trả lãi, phong tục tập quán, địa điểm và thái độ phục vụ của ngân hàng. Các hình thức huy động bao gồm hai loại tiền gửi chủ yếu là tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện một số hình thức tiền gửi khác, tuy nhiên không thường xuyên mà chỉ thực hiện trong những trường hợp nhất định.
- Nghiệp vụ có: Đây là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng. Ngân hàng dùng vốn huy động được cùng với vốn tự có để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình nhằm tạo ra nguồn thu nhập. Nghiệp vụ có của ngân hàng thể hiện ở các hoạt động sau: hoạt động ngân quỹ, hoạt động cho vay, hoạt động thuê mua, hoạt động đầu tư trực tiếp. - Nghiệp vụ trung gian: Ngoài 2 nghiệp vụ trên, ngân hàng còn thực hiện cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng nhằm thu phí và khuyến khích khách hàng đến với ngân hàng.
Ngày nay, hoạt động này ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Nghiệp vụ bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay Trong xu thế hội nhập để có thể tồn tại và phát triển vững mạnh các ngân hàng trong nước phải nhanh chóng hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của mình để đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường. Môi trường cạnh tranh càng lớn sẽ tiềm ẩn khả năng rủi ro cao, đặc biệt là hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng, trong đó cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Theo đó nếu như nguyên tắc hoàn trả bị vi phạm, cụ thể là khách hàng không trả, không trả đầy đủ đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng thì rủi ro tín dụng xảy ra. Do vậy quan hệ tín dụng thường được thể hiện bằng các hợp đồng tín dụng, trong đó đưa ra các điều khoản thi hành, các cam kết mà hai bên tự nguyện thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Như vậy bảo đảm tiền vay được hình thành trên 6 cơ sở hợp đồng tín dụng là việc ngân hàng áp dụng các biện pháp đối với khách hàng để khoản vay có thể trở về ngân hàng một cách an toàn và có lợi khi đến hạn. Theo nghị định số Số: 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng thì: “Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay [9, 1]”.
Như vậy thực chất của bảo đảm tiền vay là một trong những biện pháp để phòng ngừa rủi ro của TCTD, theo đó TCTD đưa ra các hình thức bảo đảm thích hợp áp dụng cho từng đối tượng khách hàng và biện pháp xử lý các bảo đảm đó nhằm hạn chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra. Có thể hiểu rằng bảo đảm tiền vay chính là tất cả các biện pháp thực hiện để vốn cho vay ra phải quay về với ngân hàng sau một thời gian xác định với đầy đủ cả gốc và lãi.2 Khái niệm về nghiệp vụ bảo đảm tiền vay Từ những khái niệm về bảo đảm tiền vay, có thể hiểu nghiệp vụ bảo đảm tiền vay là những công việc của các cán bộ ngân hàng thực hiện liên quan đến công tác bảo đảm tiền vay. Từ nghiệp vụ tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ TSBĐ cho đến khâu xử lý TSBĐ để thu hồi nợ vay.3 Đặc điểm của nghiệp vụ bảo đảm tiền vay - Bảo đảm tiền vay tồn tại trong mọi quan hệ tín dụng. Không phải ngẫu nhiên mà ngân hàng trao cho khách hàng sử dụng tiền mà ngân hàng đã phải trả tiền để có được, chỉ để nhận được một tờ giấy chứng nhận.
Tín dụng có một tính chất đặc biệt là vốn cho vay ra phải được hoàn trả trở lại. Do đó bất kỳ một khoản tín dụng nào mà ngân hàng cấp cho khách hàng cũng cần có bảo đảm. - Thành công của khách hàng là sự bảo đảm cao nhất cho khoản vay nhưng yếu tố quyết định cuối cùng lại là đạo đức của người vay. Tất cả các biện pháp thực hiện đều nhằm mục đích cuối cùng là thu hồi được vốn đã cho vay.
Do đó ngân hàng phải thẩm định để lựa chọn dự án khả thi, theo dõi kiểm tra tiến trình sử dụng vốn của khách hàng và phối hợp xử lý nếu có rủi ro xảy ra. Khi dự án triển khai hiệu quả thì không những đem lại thu nhập cho người lao động, đem lại nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, lợi nhuận cho chủ đầu tư mà 7 còn có tiền để trả cho ngân hàng. Đây chính là điều mà ngân hàng và khách hàng cùng mong đợi. Như vậy thành công của khách hàng chính là sự bảo đảm cao nhất cho các khoản tín dụng.
Song ngay cả trong trường hợp khách hàng thành công thì khả năng ngân hàng không thu được nợ vẫn có thể xảy ra. Nếu khách hàng cố tình trì hoãn việc trả nợ trong trường hợp họ có thể làm được điều đó thì không còn là bảo đảm tiền vay nữa. Yếu tố đạo đức được nói đến ở đây là dù trong trường hợp nào thì người đi vay cũng phải coi bảo đảm tiền vay luôn gắn liền với quá trình thực hiện dự án và gắn liền với sự thành công của mình.