Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về môi trường đầu tư để phát triển kinh tế tư nhân Chương 2. Thực trạng môi trường đầu tư để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam, sau gia nhập WTO Chương 3: Định hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện môi trường đầu tư để phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam 10 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔI TRƢỜNG ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 1. Khái quát chung về kinh tế tƣ nhân 1. Một số quan điểm về kinh tế tƣ nhân Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm KTTN hay khu vực KTTN có nhiều ý kiến chưa đồng nhất.
Do quá trình hình thành và phát triển KTTN gắn liền với quá trình đổi mới tư duy và cơ chế quản lý kinh tế, vì vậy quan niệm về KTTN cũng có những quan điểm khác nhau. Một số quan điểm cho rằng: KTTN là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (TLSX), do cá nhân làm chủ, hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Cụ thể như: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý hoạt động kinh doanh và phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, phương pháp kinh doanh, tự chịu trách nhiệm theo quy định pháp lý của Nhà nước (NN). Quan điểm khác lại cho rằng: KTTN là khu vực ngoài quốc doanh bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân.
Và tất cả những hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế NN thì đều được coi là khu vực KTTN. Như vậy, với cách hiểu này, KTTN là khái niệm được sử dụng để phân biệt với kinh tế NN dưới góc độ chủ thể sở hữu doanh nghiệp. Một số quan điểm cho rằng: KTTN là các hoạt động kinh tế chỉ bao gồm sở hữu tư nhân trong nước. Theo quan điểm này sẽ có ba khu vực kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhiều ý kiến cho rằng, việc tách hoạt động kinh doanh có vốn đầu tư nước 11 ngoài ra khỏi khu vực KTTN trong nước sẽ không đánh giá hết tiềm năng, vai trò của khu vực này trong điều kiện kinh tế mở cửa hội nhập như hiện nay. Theo Nghị quyết của hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khoá IX của Đảng: “Kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, việc hiểu KTTN tiếp tục gắn liền với khái niệm thành phần kinh tế. Văn kiện Đại hội của Đảng nền kinh tế nước ta gômg 5 thành phần kinh tế là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, KTTN, kinh tế tư bản NN, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong đó, KTTN gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân, Như vậy, với sự nhìn nhận ở mỗi góc độ khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau về KTTN. Dựa theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, tác giả cho rằng: KTTN là một bộ phận trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, được hình thành dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân về TLSX và lợi ích cá nhân, bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, với nhiều loại hình tổ chức sản xuất đa dạng: hộ cá thể kinh doanh, các loại hình DNTN, công ty TNHH, công ty CP tư nhân,… Sự phát triển của KTTN được định hướng XHCN thông qua đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam; xác định bản chất của KTTN phải xét trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất là: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối thu nhập. Đặc điểm của kinh tế tƣ nhân - Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận - Xu hướng đầu tư của KTTN là đầu tư vào các lĩnh vực có hiệu quả nhanh. 12 - Phạm vi hoạt động rộng, ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh doanh mà NN cho phép.
- Tuy nhiên, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các vùng cơ sở hạ tầng thuận lơi, dân trí cao, dân cư đông đúc, khả năng sinh lợi cao. - KTTN ơ VN đại bộ phận mới được hình thành hoặc tái lập lại từ khi có đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và NN. Vì vậy, cơ bản các DN thuộc khu vực này còn có quy mô nhỏ, hạn hẹp về vốn và công nghệ, trình độ sản xuất còn thấp. Còn tồn tại nhiều đơn vị làm ăn nhỏ lẻ, chộp giật, chưa có định hướng rõ ràng.
Có một số các DN đã khẳng định được vị thế của mình tuy nhiên số lượng không nhiều. Các loại hình sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế tƣ nhân + Doanh nghiệp tƣ nhân (DNTN): Theo luật DN, đây là loại hình DN do cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các hoạt động của DN. Chủ DNTTN là người đại diện pháp lý của DN, có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, đồng thời thực hiện các nghĩa vụ với NN. DNTN không có tư cách pháp nhân.
+ Hộ kinh doanh cá thể (KDCT): Đây là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX. Hình thức này phù hợp với hình thức sử dụng lao động trong gia định, hoặc việc sử dụng lao động thuê không thường xuyên. Loại hình này phù hợp với các mô hình trang trại, chủ cửa hàng, xưởng sản xuất, thầu xây dựng nhỏ,… Các hộ KDCT có quyền chủ độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, làm chủ trong các mối quan hệ sản xuất và cũng phải chịu trách nhiệm về kết quả tài chinh hoặc các quy định pháp lý khác của NN + Công ty TNHH: 13 Đây là mô hình DN khá phổ biến. Theo luật DN quy định, đây là loại hình DN có tư cách pháp nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh và không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Với số lượng từ hai thành viên trở lên góp vốn cùng nhau, số lượng góp vốn không vượt quá năm mươi người. Trong đó các thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN. + Công ty cổ phần tƣ nhân Đây là một mô hình DN trong đó vốn của DN được chia thành nhiều phần, có sự góp vốn của các cổ đông, ít nhất là ba người và không hạn chế số lượng tham gia. Hiện nay đây chính là loại hình DN tư nhân có thể huy động được nhiều vốn đầu tư.
Đa phần các DN thuộc khu vực KTTN đều có quy mô nhỏ và vừa. Vai trò của kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần Vai trò và vị trí của kinh tế tư nhân từng được Hồ Chủ Tịch khẳng định ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Trong Đại hội lần thức X của Đảng, khẳng định: "Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”; KTTN là bộ phận hữu cơ của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Với mục tiêu phát triển kinh tế hướng tới: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, việc khẳng định vai trò ngày một quan trọng của KTTN trong nền KTTT càng trở thành động lực mạnh mẽ để phát triển mọi cá nhân, đóng góp vào việc tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia.
Phát triển kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng đối với phát triển KT-XH: + KTTN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống người dân, giảm các tệ nạn xã hội. 14 + Góp phần đáp ứng ngày càng cao và đa dạng các nhu cầu xã hội về sản phẩm và dịch vụ. + Góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hơn, phù hợp hơn trong nền kinh tế mở cửa và hội nhập hiện nay. + Huy động có hiệu quả những nguồn lực nhàn rỗi từ mọi thành phần trong xã hội.
+ Phân bổ và sử dụng tối ưu các nguồn lực kinh tế, xã hội + Tối ưu hoá khả năng sản xuất + Tạo nguồn thu cho ngân sách NN + Thúc đẩy phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế. + KTTN trở thành động lực cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Với những vai trò đóng góp to lớn của KTTN, việc Đảng và Nhà nước cần có những chủ trương, chính sách tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển kinh tế khu vực tư nhân là điều vô cùng cần thiết. Khái quát về môi trƣờng đầu tƣ để phát triển kinh tế tƣ nhân 1. Một số quan điểm về môi trƣờng đầu tƣ phát triển kinh tế tƣ nhân * Môi trƣờng đầu tƣ Môi trường đầu tư là một khái niệm rộng, được giải thích dưới nhiều cách hiểu khác nhau.
Môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét tuỳ theo mục đích, phạm vi, đối tượng, … Cách hiểu chung nhât về môi trường đầu tư là: “Tổng hoà các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư. Bao gồm tổng thể các yếu tố về pháp lý, kinh tế, xã hội, văn hoá, các yếu tố cơ sở hạ tầng,… cả các lợi thế của quốc gia có liên quan, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước trên lãnh thổ quốc gia”. Môi trường đầu tư bao gồm tất cả các yếu tố liên quan đến kinh tế, chính trị, kinh tế, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và 15 kết quả hoạt động của các DN. Vijverberg đã chỉ ra rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư của các DN, nhất là các vấn đề liên quan đến chính sách như: tài chính, tín dụng, chính sách thương mại, chính sách thị trường lao động, các quy định, cơ sở hạ tầng, các vấn đề liên quan đến thu mua và tiêu thụ, chính sách thuế, chính sách phát triển các khu công nghiệp và các vấn đề liên quan đến hỗ trợ kỹ thuật và tài chính khác * Phát triển kinh tế tƣ nhân Theo quan điểm trên, môi trương đầu tư thuận lợi sẽ là cơ hội cho các hoạt động kinh tế phát triển.