Chương 1. Cơ sở lý luận về marketing mix 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2. Thực trạng marketing mix tại một số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở Quảng Ninh Chương 3. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện markeing mix tại các doanh nghiệp lữ hành ở Quảng Ninh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN MARKETING MIX 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm du lịch và khách du lịch 1. Khái niệm du lịch Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến và trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống ở các nước phát triển, thậm chí các nước đang phát triển.
Xét về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, ở một số quốc gia còn xếp du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Với mục đích tạo thêm nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động ngoại thương và các ngành khác góp phần vào các cân thanh toán cũng như tạo nhiều cơ hội để giải quyết việc làm. Xét trên phạm vi toàn thế giới du lịch là một ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, du lịch đã trở thành ngành kinh tế đứng thứ 4 sau các ngành: CNTT- truyền thông, công nghiệp dầu khí và công nghiệp chế tạo xe hơi. Do có ý nghĩa về nhiều mặt và nội dung các phạm trù du lịch rộng lớn, nên việc nhận thức về du lịch cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Tại Hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch họp tại Roma, Italia ngày 21/8- 5/9/1963, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Sau đó, Tổ chức du lịch thế giới đã đưa ra định nghĩa: Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.Pirôgionic, 1985 thì: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá.
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách thì: khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn sinh họat cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế. Luật Du lịch số 44/2005/QH11 được Quốc hội nước CHXHCN thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Với những định nghĩa khác nhau về du lịch như trên, có thể hiểu du lịch dưới những góc độ khác nhau, như: Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách: Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người đến một giai đoạn phát triển nhất định. chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ cuả khoa học - công nghệ, phương tiện giao thông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghĩ ngơi, tham quan du lịch cuả con người. Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn để cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hoá cao. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm khách du lịch Khách du lịch là yếu tố quan trọng nhất để ngành du lịch hoạt động và phát triển. Chỉ khi có khách, ngành du lịch mới bán được sản phẩm, nếu không có khách thì hoạt động của các nhà kinh doanh du lịch trở nên vô nghĩa, hoạt động du lịch không thể diễn ra. Nếu xét trên góc độ thị trường du lịch thì cầu du lịch chính là yêu cầu của khách du lịch về hàng hóa và dịch vụ, còn cung du lịch là sự cung cấp sản phẩm du lịch của các nhà kinh doanh du lịch cho du khách. Vậy khách du lịch là gì? Có rất nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch.
Định nghĩa của Liên hiệp các Quốc gia (League of Nations) về khách du lịch nước ngoài: “Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất 24 giờ”. Định nghĩa của Liên Hiệp quốc tế tổ chức các cơ quan lữ hành (IUOTO) tiền thân của UNWTO: Năm 1950, IUOTO đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế có hai điểm khác với định nghĩa trên là: “Sinh viên và những người đến học ở các trường cũng được coi là khách du lịch và những người quá cảnh không được coi là khách du lịch trong hai trường hợp, hoặc là họ hành trình qua một nước không dừng lại trong thời gian vượt quá 24 giờ, hoặc là họ hành trình trong khoảng thời gian dưới 24 giờ và có dừng lại nhưng không với mục đích du lịch”. Định nghĩa về khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma do Liên Hiệp quốc tổ chức năm 1963: “Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24 giờ hay nhiều hơn”. Định nghĩa của Hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian ít hơn 3 tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do vậy, những người được coi là khách du lịch quốc tế bao gồm những người đi vì lý do sức khỏe. Nhà kinh tế học người Áo Jozep Stander định nghĩa: “Khách du lịch là những hành khách đặc biệt, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi những mục đích kinh tế”. Tại Việt Nam, theo Luật Du lịch số 44/2005/QH11 được Quốc hội nước CHXHCN thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Tóm lại, từ những tiếp cận trên có thể hiểu: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định; Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khái niệm lữ hành, kinh doanh lữ hành và doanh nghiệp lữ hành 1. Khái niệm lữ hành Theo cách tiếp cận của nhà kinh doanh du lịch tại Việt Nam thì lữ hành được hiểu là: Việc thực hiện chuyến đi du lịch, theo kế hoạch, lộ trình, chương trình định trước. Khái niệm kinh doanh lữ hành Kinh doanh lữ hành (Tour - operator bisiness) là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp thông qua trung các gian hoặc các văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. Theo Luật Du lịch 2005, kinh doanh du lịch gồm kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế.
Kinh doanh lữ hành nội địa là việc tổ chức cho khách là công dân một nước, những người cư trú tại một nước đi du lịch trong phạm vi lãnh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thổ nước đó. Kinh doanh lữ hành quốc tế là việc tổ chức đưa khách ra nước ngoài hoặc đưa khách nước ngoài vào nước sở tại. Khái niệm doanh nghiệp lữ hành Cùng với quá trình hình thành và phát triển ngành du lịch, doanh nghiệp lữ hành đã phát triển không ngừng. Đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến doanh nghiệp lữ hành (DNLH).
Để tìm hiểu về khái niệm DNLH trước hết cần đề cập tới khái niệm doanh nghiệp. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định đuợc đăng ký kinh doanh theo quy định nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Luật Doanh nghiệp 2005). Cũng theo Luật Doanh nghiệp 2005 giải thích, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động của DNLH là kinh doanh lữ hành.