phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI EXIMBANK CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIẾM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI EXIMBANK LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NHTM 1. LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Dƣới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu KSNB có nhiều định nghĩa khác nhau về KSNB. Hiện nay, định nghĩa đƣợc chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO.
COSO (Committeee of Sponsoring Organization) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính. COSO đƣợc thành lập nhằm nghiên cứu về KSNB để phục vụ các đối tƣợng khác nhau và đƣa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống KSNB hữu hiệu (Internal control - Integrated framework, September 2012). Theo COSO, khái niệm về KSNB nhƣ sau: KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên của đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: + Sự tin cậy của báo cáo tài chính. + Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động.
+ Sự tuân thủ các luật lệ và quy định. Khái niệm KSNB theo COSO (Nguồn: Trần Thị Giang Tân (2012), Tổng quan về kiểm soát nội bộ) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo khái niệm trên, KSNB nổi bật có những nội dung sau: - KSNB là một quá trình, là chuỗi các hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và đƣợc kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Nó là phƣơng tiện giúp doanh nghiệp đạt đƣợc các mục tiêu trên. - KSNB không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu… mà còn bao gồm những con ngƣời trong tổ chức nhƣ Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên.
Chính con ngƣời định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế KSNB và vận hành cơ chế đó để đạt mục tiêu chứ không thể thay thế đƣợc con ngƣời. - KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải tuyệt đối các mục tiêu đƣợc thực hiện. Trong quá trình vận hành, hệ thống kiểm soát có thể tồn tại yếu kém, những sai lầm của con ngƣời dẫn đến mục tiêu không đƣợc thực hiện. KSNB chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện sai sót nhƣng không thể đảm bảo sai sót không xảy ra.
Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cơ bản để quyết định trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không đƣợc vƣợt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do đó, ngƣời quản lý có thể nhận thức đƣợc mọi rủi ro nhƣng nếu chi phí bỏ ra cho quá trình kiểm soát quá lớn thì không thể áp dụng các thủ tục kiểm soát. - Mỗi đơn vị có các mục tiêu kiểm soát cần đạt đƣợc để từ đó xác định các chiến lƣợc cần thực hiện. Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị, hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị.
Theo COSO, có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập thành ba nhóm: nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính, nhóm mục tiêu về hoạt động, và nhóm mục tiêu về sự tuân thủ. Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính. Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Báo cáo COSO đã cung cấp một cách khá đầy đủ và có hệ thống những nhận thức về KSNB. Báo cáo đã nhấn mạnh yếu tố con ngƣời: con ngƣời giữ vị trí quan trọng trong toàn hệ thống quản trị, hệ thống KSNB. Mục tiêu của kiểm soát nội bộ Theo báo cáo COSO có ba loại mục tiêu cho phép các tổ chức để tập trung vào các khía cạnh riêng biệt của KSNB: • • Mục tiêu hiệu quả và hiệu năng hoạt động – mục tiêu liên quan đến tính hiệu quả hoạt động của đơn vị, bao gồm cả mục tiêu hiệu suất hoạt động, tài chính, và bảo vệ tài sản khỏi bị mất. • • Mục tiêu báo cáo – mục tiêu liên quan đến báo cáo tài chính và phi tài chính trong và ngoài nƣớc, có thể bao gồm độ tin cậy, kịp thời, minh bạch, hoặc các điều khoản đƣợc quy định bởi cơ quan quản lý hoặc chính sách của đơn vị.
• • Mục tiêu tuân thủ – mục tiêu này đảm bảo chắc chắn rằng tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều phải tuân thủ đúng quy định và pháp luật, các yêu cầu của nhà giám sát, chính sách và thủ tục của tổ chức. Ba mục tiêu trên cho thấy nội dung kiểm soát cơ bản của KSNB. Hệ thống KSNB sẽ cung cấp cho tổ chức sự đảm bảo tính hợp lý của các báo cáo bên ngoài, báo cáo tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Trong trƣờng hợp tổ chức hoạt động phù hợp với các tiêu chuẩn bên ngoài ví dụ nhƣ việc áp dụng một tiêu chuẩn bên ngoài có liên quan đến chất lƣợng, xử lý thông tin thì tổ chức có thể đạt đƣợc sự đảm bảo hợp lý của các mục tiêu liên quan đến tính hiệu quả của hoạt động.
Tuy nhiên, hiệu quả của các hoạt động mục tiêu sẽ bị ảnh hƣởng do sự quay lại của đầu tƣ, thị trƣờng cổ phiếu, hoặc nhập sản phẩm mới… là không phải luôn luôn nằm trong tầm kiểm soát của tổ chức. KSNB không thể ngăn ngừa kết quả không tốt, quyết định sai lầm, hoặc các sự kiện bên ngoài có thể dẫn đến việc không đạt đƣợc mục tiêu hoạt động của tổ chức. Đối với những mục tiêu, hệ thống KSNB chỉ có thể cung cấp đảm bảo hợp lý rằng việc quản lý, quản trị đã đƣợc thực hiện, một cách kịp thời, trong phạm vi các hoạt động của tổ chức để hƣớng tới các mục tiêu đã đề ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Vai trò của kiểm soát nội bộ KSNB là những phƣơng pháp và chính sách đƣợc thiết kế để ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt động, và nhằm đạt đƣợc sự tuân thủ các chính sách và quy trình đƣợc thiết lập.
Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ giúp đem lại các lợi ích sau: - Giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình kinh doanh của doanh nghiệp, - Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy của doanh nghiệp cũng nhƣ các quy định của luật pháp, - Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lƣợng sản phẩm…), - Bảo vệ tài sản khỏi bị hƣ hỏng, mất mát, hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp… - Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính, - Đảm bảo sử dụng tối ƣu các nguồn lực và đạt đƣợc mục tiêu đặt ra, - Xác định các rủi ro, các vấn đề và nguồn gốc của việc kém hiệu quả và xây dựng kế hoạch giảm thiểu những điều này. KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NHTM 1. Kiểm soát nội bộ tại NHTM 1.1 Khái niệm NHTM Theo Đạo luật ngân hàng của Cộng hòa Pháp 1941: “Ngân hàng thƣơng mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Theo Luật TCTD ngày 12/12/1997: “Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình TCTD đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.
Nghị định 49/2000/NĐ- CP ngày 12/9/2000 làm rõ: “Ngân hàng thƣơng mại là ngân hàng đƣợc thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nƣớc”. Qua các khái niệm trên, NHTM là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán; thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.2 Tính đặc thù của NHTM NHTM là một trung gian tài chính có vị trí quan trọng nhất trong việc khai thông các nguồn vốn tiết kiệm đáp ứng nhu cầu đầu tƣ của các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nền kinh tế vận hành nhịp nhàng, hữu hiệu. NHTM là thành viên chủ yếu tham gia vào hoạt động của thị trƣờng tiền tệ cũng nhƣ thị trƣờng vốn. NHTM là một loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh chính là kinh doanh tiền tệ, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
NHTM là một pháp nhân độc lập, tổ chức bộ máy khá chặt chẽ, bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong quan hệ kinh tế và thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nƣớc theo quy định của pháp luật. NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Tính “đặc biệt” NHTM thể hiện các mặt sau: - Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của NHTM là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng là lĩnh vực đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Mặt khác, lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm, đòi hỏi luôn có sự thận trọng trong việc điều hành hoạt động ngân hàng để tránh gây thiệt hại cho nền kinh tế xã hội.
- NHTM là một doanh nghiệp nhƣng nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng để kinh doanh là nguồn vốn huy động từ bên ngoài, vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Trong tổng tài sản ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ trọng thấp, chủ yếu là tài sản vô hình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.