CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TIẾP CẬN THEO RỦI RO HOẠT ĐỘNG 1.1 RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thương mại 1.1 Hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thương mại Theo Peter S.Rose “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”1 Theo quyết định số 20/2004/QH11 về sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng thì ngân hàng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này (luật các tổ chức tín dụng) và các quy định khác của pháp luật được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch thanh toán2 Hoạt động ngân hàng với các sản phẩm dịch vụ truyền thống là trao đổi tiền tệ, chiết khấu thương phiếu, cho vay thương mại, nhận tiền gửi, bảo quản vật có giá, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cung cấp các tài khoản giao dịch và dịch vụ ủy thác. Hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển theo hướng trở thành tập đoàn gồm nhiều công ty trực thuộc cung cấp các dịch vụ tài chính và do đó sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng đa dạng với các dịch vụ ngân hàng hiện đại như cho vay tiêu dùng, quản lý ngân quỹ, tư vấn tài chính, cho thuê tài chính, tài trợ dự án, kinh 1 Nguồn: Peter S.Rose (2001), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB.Tài Chính 2 Nguồn: Quyết định số 20/2004/QH11 ngày 15/06/2004 của Quốc Hội khóa XI về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 doanh chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn, dịch vụ ngân hàng quốc tế, thanh toán thẻ … Các ngân hàng ngày càng có nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới, mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh cả trong nước và nước ngoài để đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng thì rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng ngày càng gia tăng.2 Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Những rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể được chia thành các loại: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro hoạt động, rủi ro uy tín (chi tiết được trình bày ở Phụ lục 1) 1. Mối quan hệ giữa rủi ro hoạt động với các loại rủi ro khác trong ngân hàng Do tính phức tạp và khối lượng giao dịch lớn, cùng với tính dễ biến động của tiền tệ nên trong hoạt động của mình ngân hàng thường gặp nhiều rủi ro.
Các loại rủi ro thường có mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau thí dụ uy tín ngân hàng suy giảm có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản do khách hàng đồng loạt rút tiền gửi tại ngân hàng và có thể làm ngân hàng phá sản, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng. Trong đó, rủi ro hoạt động thường là nguyên nhân dẫn đến những rủi ro khác như: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh toán, rủi ro uy tín… xảy ra mà nguyên nhân là do con người không tuân thủ đúng quy trình hoặc quy trình không đầy đủ hoặc do tác động từ yếu tố khách quan bên ngoài, thì các rủi ro đó cũng bắt nguồn từ rủi ro hoạt động. ( Ví dụ: rủi ro hoạt động dẫn tới rủi ro tín dụng đó là nhân viên tín dụng không thực hiện đúng quy trình tín dụng như không giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay và tình hình kinh doanh của khách hàng nên không kịp thời phát hiện khách hàng kinh doanh thua lỗ, dẫn tới phá sản, không trả nợ vay cho ngân hàng.) Do rủi ro hoạt động có tác động đến những rủi ro khác, nó cần được quản lý một cách thống nhất và toàn diện trên mọi khía cạnh của tổ chức. Bởi vậy, cơ chế quản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 lý rủi ro cần đề cập tới mọi loại rủi ro, cũng như mọi chiến lược để xác định, đo lường, điều khiển và kiểm soát rủi ro hoạt động.2 Rủi ro hoạt động trong các ngân hàng thương mại 1.1 Các yếu tố rủi ro hoạt động Rủi ro hoạt động trong hoạt động kinh doanh là lẽ thường tình xảy ra.
Riêng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, mức độ rủi ro hoạt động còn lớn hơn rất nhiều so với các lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác, và rủi ro hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng thường gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn do số tiền thất thoát lớn hơn. Rất nhiều vụ rủi ro hoạt động nổi tiếng xảy ra gần đây trên thế giới và ở Việt Nam như vụ rủi ro tại ngân hàng Socioete Generale của Pháp năm 2008 làm thiệt hại 4,9 tỷ EUR. Hoặc vụ việc nhân viên điểm giao dịch của một NHTM nhà nước giả mạo chữ ký khách hàng “thụt két” tới 24 tỷ đồng. Tổ trưởng tổ kế toán một điểm giao dịch một NHTM cổ phần biển thủ 7 tỷ đồng cá độ bóng đá.
Cán bộ kho quỹ một NHTM cổ phần rút ruột 1,28 tỷ đồng và 8 nghìn USD trái phiếu là tài sản cầm cố của khách hàng để chơi chứng khoán. Thanh toán viên chọn nhầm loại tiền từ VND thành AUD. Khách hàng chuyển 4 triệu VND bị hạch toán thành 4 triệu AUD (tương đương 48,5 tỷ VND).3 Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống;các sự kiện khách quan bên ngoài. Rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”.4 Như vậy, rủi ro hoạt động là do các nhóm yếu tố sau tạo ra: Quy trình: Rủi ro hoạt động tăng theo mức độ phức tạp của giao dịch.
Các quy trình bao gồm công tác quản trị doanh nghiệp và thẩm quyền từ cấp hội đồng 3 Nguồn: www.com 4 Basel Committee on Banking Supervision,2001,”Consultative Document: Operational Risk”- Supporting Document to the New Basel Accord, www.org TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 quản trị tới ban điều hành, lãnh đạo các phòng nghiệp vụ và nhân viên. Mọi chức năng hay bộ phận trong một tổ chức tín dụng từ việc lập kế hoạch, nhận tiền gửi, huy động nguồn lực thông qua tín dụng và các hợp đồng, thỏa thuận; ra quyết định từ đầu tư, xử lý giao dịch…đều chịu rủi ro. Con người: Rủi ro hoạt động tăng lên cùng với sự tham gia của con người vào hoạt động khởi tạo, phê duyệt, báo cáo, hoặc điều chỉnh một giao dịch. Các biểu hiện cụ thể của rủi ro hoạt động bao gồm hành vi gian lận , lỗi, sự bỏ sót và lạm dụng của nhân viên.
Ngân hàng càng có nhiều nhân viên, nhiều điểm giao dịch và khách hàng thì rủi ro hoạt động càng cao. Hệ thống: Rủi ro hoạt động từ hệ thống công nghệ bao gồm: đầu tư công nghệ không phù hợp, lỗi tích hợp từ vận hành hệ thống, lỗ hổng an ninh hệ thống. Ngoài ra, những biến cố có thể rất đơn giản như máy chủ bị treo trong thời gian ngắn hoặc có thể toàn mạng lưới bị hỏng phần cứng hoặc phần mềm…Tổn thất của trục trặc hệ thống khó có thể định lượng vì trong phần lớn trường hợp đó chính là chi phí cơ hội do ngân hàng không thể tiến hành hoạt động như bình thường. Các sự kiện bên ngoài: các vấn đề về cơ sở hạ tầng (bao gồm điện, nước, điện thoại, hệ thống dữ liệu, giao thông, vận chuyển…), đình công, các thay đổi về pháp lý, chính trị và ngay cả thời tiết khắc nghiệt có thể tạo ra hoặc làm tăng thêm các rủi ro cho ngân hàng.
Các vấn đề khác: Bao gồm số tiền của các giao dịch và số lượng các thay đổi mà một ngân hàng đang gặp phải (quyền sở hữu mới, lãnh đạo mới, nhân viên mới, những thay đổi về chính sách, quy trình, hệ thống…) Các nhóm nhân tố trên tác động đến tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên rủi ro hoạt động tồn tại trong tất cả các dịch vụ và hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, mọi vấn đề liên quan đến hoạt động ngân hàng đều có thể gây ra rủi ro hoạt động như chiến lược kinh doanh, các chính sách, các quy trình tác nghiệp, công tác tổ chức, các hoạt động nghiệp vụ, hoạt động hổ trợ, nguồn nhân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 lực, cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, các biện pháp kiểm soát, công tác kiểm toán … 1.2 Phân loại rủi ro hoạt động Rủi ro hoạt động luôn tiềm ẩn trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng. Và thực tế, nó thường xuất hiện trong các trường hợp sau: Rủi ro từ nội bộ ngân hàng - Rủi ro do cán bộ ngân hàng gây nên: Cán bộ ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được ủy quyền hoặc phê duyệt vượt quá thẩm quyền cho phép; không tuân thủ các quy định, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng; có hành vi lừa đảo hoặc hành vi phạm tội, cấu kết với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho ngân hàng… - Rủi ro do các quy trình quy định nghiệp vụ: Quy trình nghiệp vụ có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng; hoặc quy trình nghiệp vụ chưa phù hợp gây khó khăn cho cán bộ tác nghiệp trong ngân hàng … - Rủi ro từ hệ thống hỗ trợ: Rủi ro từ công nghệ thông tin (dữ liệu không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn, thiết kế của hệ thống không phù hợp, gián đoạn của hệ thống, phần mềm chương trình hổ trợ cài đặt trong hệ thống lỗi thời, hỏng hoặc không hoạt động); rủi ro từ các hệ thống hổ trợ khác.