phần mở đầu và kết luận, danh mục các từ viết tắt; danh mục bảng; danh mục biểu đồ, sơ đồ, đồ thị, danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động huy động vốn trong ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: iải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Kiểm soát nội bộ trong hệ thống ngân hàng 1. Khái niệm Theo quan điểm, góc độ quản lý và quá trình nhận thức, nghiên cứu về KSNB nên có nhiều định nghĩa đƣợc các tổ chức đƣa ra.
Một số tổ chức nghề nghiệp AICPA, IIA công bố KSNB nhƣ sau: “kiểm soát nội bộ là công cụ giúp nhà quản lý ngăn ngừa gian lận, bao gồm biển thủ tài sản và trình bày sai trên báo cáo tài chính” hay “kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chu trình, nghiệp vụ phát sinh trong đơn vị, giúp đơn vị tuân thủ luật lệ và các quy định đã được đề ra”. [19] Theo Thông tƣ số 13/2018/TT-N NN ngày 18/5/2018 quy định về hệ thống KSNB của N TM, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài của Thống đốc NHNN Việt Nam (2018), “KSNB là việc kiểm tra, giám sát đối với các cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện cơ chế, chính sách, quy định nội bộ, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, văn hóa kiểm soát nhằm kiểm soát xung đột lợi ích, kiểm soát rủi ro, đảm bảo hoạt động của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đạt được các mục tiêu đề ra đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật” [14] Các định nghĩa trên chỉ phản ánh một khía cạnh của KSNB. Tuy còn nhiều tranh luận đang diễn ra nhƣng đến nay thực tế định nghĩa KSNB theo Báo cáo COSO vẫn đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất. Theo định nghĩa của COSO 2018 (Committee of Sponsoring Organizations of Treadway Commission): “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; 8 - Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính; - Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định”[1] 1.
Vai trò, mục tiêu của kiểm soát nội bộ 1.1 Vai trò và sự cần thiết của kiểm soát nội bộ Về mặt hoạt động, KSNB hữu hiệu giúp cho các đơn vị nâng cao chất lƣợng hoạt động kinh doanh, giúp nhà quản lý hạn chế và ngăn ngừa các rủi ro và thiệt hại hông đáng có, từ đó giúp đơn vị có thể giảm các tỷ lệ sai sót. Để đảm bảo KSNB hữu hiệu thì đòi hỏi đơn vị phải tích hợp và chuẩn hóa các quy trình hoạt động. Điều này giúp các đơn vị giảm thiểu đƣợc thời gian hao phí không hiệu quả, tăng khối lƣợng công việc đƣợc xử lý. Về mặt quản lý, KSNB giúp đơn vị quản trị nguồn lực tốt hơn, bảo vệ tài sản khỏi bị hƣ hỏng, ngăn chặn các hành vi gian lận, tham nhũng trong đơn vị.
Ngoài ra KSNB còn là công cụ hỗ trợ cho việc lập kế hoạch và ra quyết định, nâng cao hiệu quả quản lý ở tất cả các cấp quản lý. KSNB đòi hỏi tất cả các khâu hoạt động, mọi cấp quản lý đều hình thành chốt chặn kiểm soát để kiểm tra, giám sát và cung cấp thông tin hữu ích giúp nhà quản lý thực hiện các hoạt động tốt hơn và hiệu quả hơn. KSNB tạo ra cơ chế vận hành minh bạch, trơn tru và hiệu quả hơn trong công tác điều hành tại đơn vị. Về mặt công tác tổ chức, KSNB hữu hiệu sẽ giúp các lao dộng trong đơn vị tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của đơn vị cũng nhƣ quy định của luật pháp, các nguyên tắc đạo đức giúp các thành viên đều hƣớng tới mục tiêu chung của đơn vị.
Về mặt giám sát, KSNB hữu hiệu giúp đơn vị giảm thiểu rủi ro. Thông qua thông tin tài chính đáng tin cậy mà đơn vị công bố, cổ đông và ngƣời có lợi ích liên quan của công ty đại chúng, tổ chức tín dụng có thể tự phát hiện gian lận và thực hiện thủ tục cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Tóm lại, KSNB giữ vai trò quan trọng trong quản lý đơn vị. Việc thiết lập KSNB trong hệ thống quản lý chính là xác lập cơ chế giám sát không 9 quản lý bằng lòng tin mà bằng các quy định rõ ràng.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ KSNB của đơn vị nhằm hƣớng đến ba mục tiêu chính sau: Mục tiêu hoạt động: chính là nhắc đến tính hữu hiệu và hiệu quả trong quản lý của đơn vị.
Tính hữu hiệu là đề cập đến việc bảo vệ tài sản, tính tin cậy trong báo cáo tài chính, đảm bảo nhân viên tuân thủ các quy định đẩy mạnh hiệu quả điều hành và hiệu quả sản xuất trong kinh doanh. Tính hiệu quả tức là hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra. Mục tiêu báo cáo: đề cập đến độ tin cậy, tính hoàn thiện và cập nhật của thông tin tài chính và thông tin quản lý. Các báo cáo cần thiết đƣợc lập đúng hạn và đáng tin cậy để ra quyết định trong nội bộ đơn vị.
Thông tin gửi đến nhà quản lý đơn vị, các cổ đông phải có chất lƣợng và tính nhất quán. Báo cáo tài chính và các báo cáo quản lý hác đƣợc trình bày một cách hợp lý và dựa trên các chính sách kế toán đã đƣợc xác định rõ ràng. Mục tiêu tuân thủ: đề cập đến việc mọi hoạt động của đơn vị đều chấp hành, tuân thủ theo các luật và quy định của Nhà nƣớc, các yêu cầu quản lý, các chính sách và quy trình nghiệp vụ của đơn vị. Cần lƣu ý các mục tiêu có thể tách biệt nhƣng cũng có thể trùng nhau khi thực hiện một hoạt động nào đó của đơn vị.
Sự phân loại mục tiêu nhằm giúp đơn vị không bỏ sót phƣơng diện nào trong quá trình tồn tại và phát triển. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Hoạt động của hệ thống KSNB phải đảm bảo các nguyên tắc: các rủi ro phải đƣợc nhận dạng, đo lƣờng, đánh giá; hoạt động của hệ thống KSNB là một phần không tách rời các hoạt động hằng ngày của tổ chức tín dụng. KSNB đƣợc tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp vụ; phân cấp ủy quyền; bảo đảm chấp hành chế độ hạch toán, kế toán theo quy định; hệ thống thông tin phải đƣợc giám sát, an toàn; cán bộ, nhân viên hiểu đƣợc tầm quan trọng của hoạt động KSNB; thƣờng xuyên xem xét, đánh giá về tính hữu 10 hiệu và hiệu quả của hệ thống KSNB; thƣờng xuyên, kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các quy định, quy trình nội bộ; báo cáo về kết quả tự đánh giá về hệ thống KSNB tại đơn vị mình. Hoạt động huy động vốn trong ngân hàng thƣơng mại 1.
Đặc điểm hoạt động huy động vốn trong ngân hàng thương mại uy động vốn là nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM, thông qua việc ngân hàng nhận ký thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. uy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM, nguồn vốn này chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn nên đóng vai trò quan trọng, ảnh hƣởng đến quy mô và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. NHTM mua quyền sử dụng các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của khách hàng trong một thời gian nhất định với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ với chi phí phải trả cho hách hàng dƣới hình thức lãi tiền gửi. Các chủ thể tham gia trong nghiệp vụ huy động vốn bao gồm: NHTM với vị thế là ngƣời huy động vốn và khách hàng (cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.) với vị thế là ngƣời cung cấp vốn huy động cho ngân hàng.
Hình thức huy động vốn của N TM ngày càng đa dạng đáp ứng yêu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế. NHTM có thể huy động vốn bằng các hình thức nhƣ: nhận tiền gửi không kỳ hạn, nhận tiền gửi có kỳ hạn và phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi). Khi khách hàng có yêu cầu rút tiền thì ngân hàng sẽ hoàn trả lại số tiền gốc đã huy động và trả cho khách hàng một khoản tiền lãi phát sinh từ việc gửi tiền tại ngân hàng. Khoản tiền lãi này chính là chi phí mà ngân hàng phải trả khi thực hiện huy động vốn của khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định.
uy động vốn là nghiệp vụ có tính hoàn trả, vì N TM là ngƣời đi vay vốn, chỉ đƣợc quyền sử dụng số vốn đó trong một khoảng thời gian nhất định, mà không có quyền sở hữu nên có trách nhiệm hoàn trả lại cho khách hàng 11 hi đến hạn hoặc ngay khi khách hàng có yêu cầu. Các hình thức huy động vốn đƣợc xác định là một hình thức đầu tƣ an toàn trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng. Lãi suất huy động vốn là yếu tố tích cực kích thích huy động vốn từ các chủ thể trong nền kinh tế. Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của N TM đóng vai trò quan trọng nhƣng cũng hông ém phần rủi ro cho NHTM.
Nếu ngân hàng không có chiến lƣợc quản trị thanh khoản tốt sẽ dễ dẫn đến tình trạng thừa và thiếu hụt thanh khoản vƣợt mức giới hạn cho phép, hoặc nếu nhƣ hách hàng rút vốn hàng loạt tại cùng một thời điểm, dẫn đến nguy cơ gây ra sụp đổ và phá sản của hệ thống ngân hàng. Nghiệp vụ huy động vốn chỉ có thể thực hiện khi có sự tin tƣởng, tín nhiệm của khách hàng dành cho ngân hàng. Vì thế ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt[11] 1.