CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH THEO QUY ĐỊNH CỦA QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM 1. Chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam về tài sản cố định 1. Chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản cố định CMKT quốc tế là những quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc, phương pháp kế toán có tính khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong việc ghi chép và trình bày hệ thống BCTC. Hệ thống CMKT quốc tế có các chuẩn mực IAS 16 (Nhà xưởng máy móc thiết bị), IAS 17 (tài sản thuê), IAS 36 (giảm giá trị tài sản) và IAS 38 (tài sản vô hình) liên quan đến TSCĐ.
IAS 16 và IAS 38 Nội dung chuẩn mực IAS 16 và IAS 38 trình bày các khái niệm, phương pháp xác định giá trị ban đầu, giá trị sau ghi nhận ban đầu và phương pháp hạch toán, phương pháp khấu hao đối với nhà xưởng, máy móc, thiết bị, tài sản vô hình và phương pháp trình bày các chỉ tiêu liên quan trên hệ thống BCTC. Nhà xưởng, máy móc, thiết bị và tài sản vô hình được ghi nhận là TSCĐ khi thỏa mãn đồng thời hai tiêu chuẩn: Chắc chắn DN thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản và giá trị tài sản đối với DN được tính toán một cách đáng tin cậy. Việc xác định một khoản chi được ghi nhận là tài sản hay chi phí sẽ ảnh hưởng đáng kể đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Giá trị ban đầu của nhà xưởng, máy móc và thiết bị bao gồm giá mua, thuế nhập khẩu và các loại thuế không được hoàn lại và các khoản chi phí liên quan đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵng sàng sử dụng, các khoản chiết khấu và khấu trừ trên giá mua tài sản.
Các chi phí hành chính và các chi phí chạy thử, chi phí phát sinh trước khi sử dụng cũng không được tính vào giá trị của nhà xưởng, máy móc và thiết bị trừ khi chúng liên quan đến việc đưa tài sản vào trạng thái làm việc như hiện tại. Giá trị của tài sản tự xây dựng được xác định tương đương với các chi phí sản xuất ra sản phẩm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 để bán, các chi phí vật tư lãng phí, lao động sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình xây dựng không được tính vào nguyên giá của tài sản. Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu được hạch toán tăng giá trị tài sản khi các chi phí này làm tăng lợi ích kinh tế mà tài sản đó có thể mang lại lợi ích kinh tế cho DN hoặc thực sự cải thiện trạng thái hiện hữu của tài sản so với trạng thái ban đầu của nó. Các chi phí sửa chữa bảo dưỡng nhà xưởng, máy móc và thiết bị nhằm khôi phục khả năng mang lại lợi ích kinh tế của tài sản được ghi nhận là chi phí.
Về khấu hao, giá trị có thể khấu hao của nhà xưởng, máy móc và thiết bị cần được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của nó. Giá trị khấu hao trong mỗi kỳ được hạch toán vào chi phí trừ khi chúng được tính vào giá trị kế toán của tài sản khác. Phương pháp khấu hao thể hiện cách thức mà DN đạt được lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản. Các phương pháp tính khấu hao bao gồm: phương pháp khấu hao tuyến tính, phương pháp khấu hao giảm dần và phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm sản xuất.
Phương pháp tính khấu hao đối với mỗi tài sản cần được thực hiện thống nhất qua các kỳ kế toán trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản. Đối với tài sản vô hình nếu cách thức mang lại lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản không thể xác định một cách đáng tin cậy thì phương pháp khấu hao tuyến tính được áp dụng với thời gian sử dụng dự kiến không quá 20 năm kể từ ngày sử dụng tài sản. Về công bố thông tin, DN cần công bố chính sách kế toán bao gồm: Cơ sở tính toán cho từng loại tài sản, phương pháp và tỷ lệ khấu hao áp dụng đối với từng loại tài sản. Báo cáo thu nhập và thuyết minh cần trình bày chi phí khấu hao của từng loại tài sản và ảnh hưởng của những thay đổi quan trọng trong việc dự tính các loại chi phí có liên quan đến các loại tài sản nhà xưởng và thiết bị.
Bảng cân đối và thuyết minh cần trình bày giá trị ghi sổ và khấu hao lũy kế của từng loại tài sản ở đầu kỳ và cuối kỳ, sự biến động của nguyên giá TSCĐ trong kỳ, giá trị tài sản trong quá trình xây dựng, giá trị tài sản dùng để thế chấp và các cam kết về vốn cho việc mua tài sản. IAS 17 tài sản thuê, phân biệt hợp đồng thuê tài chính và thuê hoạt động. Thuê tài chính là loại thuê chịu nhiều rủi ro và hưởng lợi ích liên quan đến sở hữu tài sản. Rủi ro bao gồm tổn thất có thể không sử dụng hết công suất, công nghệ lạc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 hậu và thay đổi thu nhập do điều kiện kinh tế thay đổi, phần hưởng lợi bao gồm các lợi ích thu được trong suốt vòng đời kinh tế của tài sản và những gì thu được từ việc gia tăng giá trị hoặc thu hồi giá trị còn lại của tài sản.
Còn thuê hoạt động là hình thức thuê không quy định như thuê tài chính. Rủi ro gồm có tổn thất tiềm năng do không sử dụng đúng công suất tài sản, công nghệ lạc hậu và thay đổi thu nhập do điều kiện kinh tế thay đổi. Phần lợi ích bao gồm dự tính hoạt động có lãi trong suốt vòng đời kinh tế của tài sản và những gì thu được nhờ tăng giá trị hoặc chuyển thành tiền của giá trị còn lại. Về nguyên tắc kế toán, bên đi thuê tài chính ghi nhận tài sản và nợ phải trả theo cùng một số tiền, các chi phí ban đầu liên quan đến hoạt động thuê được vốn hóa vào giá trị tài sản, tiền thuê thanh toán bao gồm tiền lãi thuê và tiền thuê gốc, khấu hao tài sản thuê được thực hiện như IAS 16.
Bên thuê hoạt động ghi nhận tiền thuê là một khoản chi phí trong báo cáo thu nhập theo phương pháp đường thẳng. Bên cho thuê tài chính ghi nhận tài sản cho thuê như một khoản phải thu theo giá trị đầu tư thuần, việc ghi nhận doanh thu tài chính được thực hiện trên cơ sở tỷ lệ sinh lời định kỳ không đổi và giá trị đầu tư thuần, chi phí trực tiếp ban đầu có thể được ghi nhận ngay hoặc phân bổ vào doanh thu tài chính trong thời hạn cho thuê. Bên cho thuê hoạt động phân loại tài sản cho thuê theo tính chất của tài sản, chi phí khấu hao được thực hiện theo IAS 16, thu nhập cho thuê được thực hiện theo phương pháp đường thẳng trong thời gian cho thuê, chi phí trực tiếp ban đầu có thể được ghi nhận ngay hoặc phân bổ vào thu nhập cho thuê trong suốt thời gian cho thuê. Về công bố thông tin đối với bên đi thuê với hình thức thuê tài chính: Diễn giải khái quát về những thỏa thuận cho thuê quan trọng, phân biệt giữa nợ thuê ngắn hạn và dài hạn.
Số tiền thanh toán thuê lại tối thiểu trong tương lai dự tính thu được dưới hình thức cho thuê lại không thể hủy bỏ vào ngày lập bảng cân đối kế toán, tiền cho thuê bất thường được ghi nhận vào thu nhập trong kỳ. Với hình thức thuê hoạt động tiền thuê và thuê lại được ghi nhận vào thu nhập của kỳ hiện tại, tách biệt các khoản tiền thuê tối thiểu, tiền thuê bất thường và thanh toán tiền cho thuê lại. IAS 36 đề cập đến tổn thất do giảm giá trị tài sản và hạch toán giảm giá trị tài sản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Vào ngày lập bảng cân đối kế toán, giá trị tài sản có thể thu hồi cần được dự tính nếu có dấu hiệu về sự giảm giá trị của tài sản.
Những yếu tố cần xem xét bao gồm dấu hiệu bên ngoài như sự giảm giá thị trường và những thay đổi có thể gây bất lợi cho DN và dấu hiệu bên trong như bằng chứng về sự lỗi thời của tài sản hoặc tài sản hoạt động không như mong đợi. Giá trị có thể thu hồi của một tài sản được tính toán với giá cao hơn giá bán thuần và giá trị đang sử dụng, trong đó giá bán thuần là số có thể thu được từ giao dịch bán tài sản giữa các bên có đầy đủ hiểu biết và sẵn sàng trao đổi sau khi trừ đi các chi phí có liên quan trực tiếp. Giá trị đang sử dụng là giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai dự tính sẽ phát sinh từ việc tiếp tục sử dụng tài sản và thanh lý nó khi hết thời gian sử dụng. Một sự tổn thất do giảm giá trị tài sản sẽ tồn tại bất cứ khi nào mà giá gốc của tài sản vượt giá trị có thể thu hồi của nó.
Khi cả giá bán thuần và giá trị đang sử dụng của một tài sản lớn hơn giá gốc của nó thì tài sản không bị giảm giá. Tổn thất do giảm giá trị tài sản cần được ghi nhận trong báo cáo thu nhập và được hạch toán như khoản giảm do đánh giá lại tài sản. Sau khi ghi nhận tổn thất do giảm giá trị tài sản, chi phí khấu hao cần được điều chỉnh tương ứng trên cơ sở giá trị đã điều chỉnh của tài sản. Về công bố thông tin giá trị được ghi nhận trong báo cáo thu nhập đối với các khoản lỗ do giảm giá.
Nếu các khoản lỗ do giảm giá được ghi nhận trong kỳ là trọng yếu về tổng số đối với toàn bộ BCTC, thì công bố diễn giải tóm tắt cho những khoản tài sản chính bị ảnh hưởng, những sự kiện chính và nguyên nhân dẫn đến những khoản lỗ được ghi nhận. Như vậy IAS đã đề cập toàn diện, đầy đủ các vấn đề tài chính, kế toán liên quan đến TSCĐ trong DN. Từ nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản vô hình, thuê tài sản đến tổn thất do giảm giá trị tài sản.