Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác kế toán quản trị tại Công ty cổ phần bê tông Becamex. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện một số nội dung kế toán quản trị tại Công ty cổ phần bê tông Becamex. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về kế toán quản trị trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm về kế toán quản trị Kế toán quản trị được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất cùng một ý tưởng là bộ phận kế toán hướng đến cung cấp thông tin phục vụ cho các nhà quản lý ở doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản lý như hoạch định, xây dựng thực hiện, kiểm tra giám sát và ra quyết định quản lý. Một số định nghĩa về kế toán quản trị: - Theo Liên đoàn kế toán quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998: “ Kế toán quản trị được xem như một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động xây dựng nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp.” - Theo Hilton, năm 1991, “Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một xây dựng. Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của xây dựng. - Theo Edmonds et al, năm 2003, “ Kế toán quản trị là một lĩnh vực kế toán được thiết kế để thỏa mãn nhu cầu của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm việc trong cùng một xây dựng”.
Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp, là những người mà các quyết định và hành động của họ quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó. Thông tin không đầy đủ, các nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý điều hành. Còn nếu thông tin không chính xác, các nhà quản trị sẽ ra quyết định kinh doanh sai lầm, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thông tin không kịp thời dẫn đến các vấn đề không được giải quyết kịp thời và chính xác.
6 Ở Việt Nam, định nghĩa kế toán quản trị được ban hành trong Luật kế toán Việt Nam năm 2003: “ Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu kế toán quản trị là quá trình thu thập, xử lý và lập các báo cáo nội bộ nhằm cung cấp thông tin phục vụ chủ yếu cho những nhà quản lý bên trong doanh nghiệp, giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế và vạch ra kế hoạch cho tương lai phù hợp với chiến lược kinh doanh. Vai trò của kế toán quản trị trong doanh nghiệp Kế toán quản trị là một chuyên ngành của kế toán nhằm thực hiện quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp và truyền đạt thông tin hữu ích giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản trị gồm hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm tra – đánh giá và ra quyết định trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể như sau: - Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch: Lập kế hoạch là một chức năng quan trọng của nhà quản lý, kế hoạch biểu hiện dưới dạng hình thức dự toán. Để những kế hoạch này được thực hiện tốt, có khả thi và mang lại hiệu quả thì phải dựa trên những thông tin đúng đắn và có sơ sở do kế toán quản trị cung cấp.
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức và điều hành: Để tổ chức và điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý cần có những thông tin về tất cả các hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp. Các thông tin cho các tình huống khác nhau với các phương án khác nhau để nhà quản trị làm cơ sở xem xét, đề ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã vạch ra. - Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra, kiểm soát: Để các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát, kế toán quản trị sẽ cung cấp các báo cáo thực hiện, trong đó so sánh sự khác biệt giữa số liệu thực hiện so với số liệu dự toán. Báo cáo kế toán quản trị cung cấp thông tin phản hồi để nhà quản trị biết được kế hoạch đề ra đang được thực hiện đến đâu, đồng thời nhận diện các vấn 7 đề tồn tại cần có sự điều chỉnh kịp thời nhằm hướng hoạt động của doanh nghiệp theo mục tiêu đã đề ra.
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Tất cả các quyết định điều từ nền tảng thông tin, thông tin do kế toán quản trị cung cấp phần lớn nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định của nhà quản trị. Vì vậy kế toán quản trị cung cấp những thông tin linh họat, kịp thời và mang tính hệ thống, trên cơ sở đó phân tích các phương án nhằm ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu nhất. Kiểm tra quản lý Kế hoạch SXKD KTQT: Công cụ đánh giá Quản lý các quy Kiểm tra phân tích chi phí trình hành động (Nguồn: Sách kế toán quản trị _ NXB Kinh tế Tp.1: Vai trò của kế toán quản trị 1. Nội dung tổ chức kế toán quản trị tại doanh nghiệp Phạm vi của kế toán quản trị rất đa dạng và phong phú, không ngừng phát triển và thay đổi để phù hợp với yêu cầu quản lý cũng như nhận thức và trình độ quản lý trong từng giai đoạn nhất định.
Tuy nhiên cho đến nay có thể tổng hợp phạm vi của kế toán quản trị như sau: Bảng 1.1: Tổng hợp phạm vi của kế toán quản trị Stt Phạm vi 01 Nhận diện và phân loại chi phí kinh doanh 02 Lập ngân sách, lập kế hoạch và dự báo 03 Tính toán lợi nhuận của sản phẩm, dịch vụ và hoạt động 04 Đo lường thành quả thực hiện của tổ chức, lĩnh vực kinh doanh và bộ phận 8 Stt Phạm vi 05 So sánh kết quả và hiệu suất trong tổ chức và giữa các tổ chức 06 Hỗ trợ trong quá trình gia tăng hiệu quả và hữu hiệu 07 Đánh giá thành quả thực hiện trong quá khứ và tương lai của vốn đầu tư Tư vấn về các quyết định liên quan đến cấu trúc sản phẩm, thị trường và giá 08 bán Tư vấn về các quyết định thuê ngoài hay tự sản xuất các sản phẩm, bán 09 thành phẩm, hoạt động và dịch vụ Tư vấn về các quyết định liên quan đến việc đầu tư nguồn lực có giới hạn 10 giữa một loạt các lựa chọn thay thế có thể 11 Hỗ trợ trong việc tạo ra một loạt các quyết định chiến lược (Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các sách) Hiện nay vẫn chưa được phân định rõ ràng các ranh giới giữa kế toán quản trị và quản trị tài chính cũng như ranh giới giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính. Một số vấn đề được đề cập trên cũng thuộc phạm vi của quản trị tài chính như đánh giá thành quả thực hiện của vốn đầu tư hoặc đo lường thành quả thực hiện của tổ chức cũng thuộc phạm vi của kế toán tài chính…Vì vậy, phạm vi của kế toán quản trị có sự giao thoa giữa những đặc thù riêng của kế toán quản trị kết hợp với một phần của quản trị tài chính cũng như kế toán tài chính. Từ phạm vi nêu trên có thể rút ra các nội dung chủ yếu của KTQT trong doanh nghiệp thường bao gồm: hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí trong doanh nghiệp; dự toán; kế toán các trung tâm trách nhiệm và đánh giá trách nhiệm quản lý; thiết lập thông tin phục vụ cho việc ra quyết định và dự báo. Hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí trong doanh nghiệp Quyết định của nhà quản trị rất đa dạng và hầu như quyết định nào cũng liên quan đến chi phí do đó chi phí phải được đo lường và nhận diện theo nhiều cách khác nhau để phù hợp cho từng loại quyết định của nhà quản trị.
Nội dung của hệ thống kế toán chi phí trong doanh nghiệp: 1. Phân loại chi phí 9 Để thực hiện chức năng hoạch định kiểm soát và ra quyết định, các nhà quản trị cần rất nhiều thông tin về doanh nghiệp. Đứng trên gốc độ kế toán, thông tin mà họ cần thường liên quan đến chi phí. Khác với kế toán tài chính, trong kế toán quản trị, chi phí được sử dụng theo nhiều cách khác nhau.
Lý do là vì chi phí được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo nhu cầu khác nhau của quản trị. - Phân loại chi phí theo yếu tố: Căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí chia chi phí thành 6 yếu tố: Chi phí nguyên liệu, vật liệu; Chi phí công cụ, dụng cụ; Chi phí nhân công; Chi phí khấu hao tài sản cố định; Chi phí dịch vụ mua ngoài; Chi phí bằng tiền khác. - Phân loại chi phí theo khoản mục: Để phục vụ cho việc đánh giá tài sản và đo lường lợi nhuận làm cơ sở cho việc lập các báo cáo tài chính tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán hiện hành. Kế toán căn cứ vào mục đích sử dụng hay công dụng để phân chi phí thành 6 khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp; Chi phí nhân công trực tiếp; Chi phí sản xuất chung; Chi phí bán hàng; Chi phí quản lý doanh nghiệp; Chi phí khác.
- Phân loại chi phí theo phạm vi đo lường: Căn cứ vào phạm vi đo lường, chi phí được phân thành tổng chi phí và chi phí bình quân. - Phân loại chi phí theo thời gian ghi nhận: Dựa vào nguồn dữ liệu và thời gian ghi nhận, chi phí được phân thành chi phí lịch sử và chi phí dự toán. - Phân loại chi phí theo mối quan hệ với qui mô hoạt động: Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với qui mô hoạt động, chi phí được phân thành 3 loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.