Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lí luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp thương mại. Chương 3: Phân tích thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Văn phòng Tập đoàn xăng dầu Việt Nam. Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Văn phòng Tập đoàn xăng dầu Việt Nam. 11 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2.
Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí 2. Bản chất của kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kế quản quản trị, có mối quan hệ và tác động trực tiếp tới quản trị lợi nhuận. Chính vì vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí là biểu hiện ở bản chất của kế toán. Theo quan điểm của Viện kế toán viên quản trị Mỹ (IMA), kế toán quản trị chi phí được hiểu là “kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quy trình hoặc một sản phẩm,.
Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tùy ý hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý”. Như quan điểm này, kế toán quản trị chi phí không phải là một bộ phận độc lập, một phân hệ riêng trong hệ thống kế toán mà kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài chính, vừa là một bộ phận của kế toán quản trị. Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, ghi nhận chi phí phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp theo đúng các nguyên tắc kế toán để đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Dưới góc nhìn kế toán quản trị, kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình sử dụng chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động đầu tư và các chi phí phát sinh tại các bộ phận gián tiếp trong doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh quan điểm trên, còn có quan điểm đồng nhất kế toán chi phí với kế toán quản trị, quan điểm này xuất phát từ thực tế cho thấy thông tin chi phí phục vụ chủ yếu cho các mục đích quản trị nội bộ, trở thành một thông tin ngày càng quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp. Theo tác giả, với quan điểm đồng nhất kế toán chi phí với kế toán quản trị sẽ dẫn đến sự chú trọng kế toán quản trị hơn trong khi xây dựng hệ thống kế toán, tập trung vào việc cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ và sẽ giảm nhẹ sự quan tâm đến việc cung cấp thông tin trung thực và khách quan trong trình bày báo cáo tài chính. 12 Theo tác giả, quan điểm kế toán chi phí vừa nằm trong kế toán tài chính, vừa có trong kế toán quản trị là một quan điểm hài hòa. Một mặt vừa thể hiện bản chất, chức năng của kế toán chi phí trong trình bày và lập báo cáo tài chính; mặt khác cũng xây dựng hệ thống kế toán chi phí chi tiết tỉ mỉ trong việc xác định hiệu quả nội bộ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện có sự khác biệt tương đối trong quan điểm và ghi nhận chi phí của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam với kế toán quản trị; do vậy tác giả cho rằng kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí giúp nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị. Quan điểm này sẽ là cơ sở cho tất cả các phân tích, nhận định, đánh giá được trình bày trong nội dung luận văn. Chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tài sản cũng như sự hoạt động liên tục của một doanh nghiệp. Do vậy, nhà quản trị ở tất cả các cấp trong một đơn vị đều phải hiểu được bản chất của chi phí phát sinh trong phạm vi quản lý của mình để có thể kiểm soát và sử dụng chúng như một công cụ để gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Để phục vụ tốt hơn cho việc quản trị chi phí ở các doanh nghiệp và đưa ra các quyết định hợp lý, trước tiên cần có sự hiểu biết đầy đủ, khoa học về chi phí. Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dưới góc độ kế toán quản trị, chi phí được hiểu là những phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh được tổng hợp theo từng bộ phận, từng trung tâm chi phí cũng như xác định giá trị hàng tồn kho trong từng khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ. Kế toán quản trị hướng tới đối tượng là các nhà quản lý, trợ giúp cho việc ra quyết định theo từng tình huống cụ thể liên quan đến vấn đề chi phí và giá trị thu được do các chi phí tạo ra.
Vì vậy kế toán quản trị tập trung vào hai mục tiêu chủ yếu sau: - Xem xét giữa việc tiêu dùng các nguồn lực (bao gồm cả chi phí cơ hội) và với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó (sự cần thiết), để thực hiện các mục đích cụ thể của đơn vị. - Tối ưu hoá mối quan hệ giữa chi phí với lợi ích mà chi phí đó tạo ra. Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm 13 cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý. Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin thích hợp về chi phí, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Các thông tin kế toán quản trị chi phí mang tính linh hoạt, thường xuyên và hữu ích, không bắt buộc phải tuân theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Thông tin kế toán quản trị chi phí cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và những thông tin dự báo thông qua việc lập các kế hoạch và dự toán chi phí trên cơ sở các định mức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế. Đồng thời, thông tin kế toán quản trị chi phí còn làm căn cứ cho việc đưa ra các quyết định về việc tiếp tục kinh doanh hay ngừng bán dòng sản phẩm, căn cứ để tính toán lượng nhập khẩu và làm căn cứ để quyết định giá bán sản phẩm. Các báo cáo quản trị chi phí thường được sử dụng nội bộ mà không được công khai ra bên ngoài.
Nó chỉ có ý nghĩa trong phạm vi quản lý nội bộ của một doanh nghiệp. Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán nói chung và là một công cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Như vậy, từ những phân tích trên có thể nói bản chất của kế toán quản trị chi phí là nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý. Cụ thể: - KTQT chi phí là một bộ phận cấu thành của kế toán trị nói chung trong các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp thương mại.
- KTQT chi phí cung cấp các thông tin về tình hình sử dụng và kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp. Những thông tin về kế toán quản trị chi phí có ý nghĩa với các bộ phận và các nhà quản lý doanh nghiệp. - KTQT chi phí không chỉ thu thập và cung cấp thông tin quá khứ mà còn thu thập, xử lý và cung cấp thông tin hiện tại, hướng về tương lai phục vụ cho việc lập dự toán, làm căn cứ trong việc lựa chọn các quyết định bán sản phẩm ở thị trường mục tiêu nào, mức độ dự trữ hàng tồn kho cho từng thời kỳ,. ra quyết định lựa chọn các phương án kinh doanh hợp lý.
14 - KTQT chi phí quan tâm đến các chi phí thực tế phát sinh theo loại chi phí, tổng mức chi phí và chi tiết theo từng mặt hàng. - Khi có sự biến động chi phí, trách nhiệm cần giải thích về những thay đổi bất lợi thuộc bộ phận nào KTQT chi phí phải theo dõi và báo cáo rõ ràng phục vụ cho quá trình kiểm soát, điều chỉnh của nhà quản lý. - Thông tin về KTQT chi phí thường cụ thể và mang tính chất định lượng nhiều vì gắn với các hoạt động kinh doanh cụ thể của các bộ phận. Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của thông tin kế toán quản trị chi phí ngày càng được mở rộng và khẳng định vị thế phát triển.
Mặt khác các mô hình tổ chức quản lý cũng thay đổi theo sự phát triển của công nghệ thông tin và các công cụ phân tích hiện đại thông qua hệ thống máy tính. Thông tin kinh tế ngày càng hội nhập cao, mang tính toàn cầu, do vậy quá trình thu thập, xử lý thông tin đòi hỏi phải nhanh, chính xác và mang tính quốc tế. Do vậy, kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp ngày càng phát triển như một tất yếu khách quan. Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin về chi phí trong mọi hoạt động trong doanh nghiệp thương mại từ nghiên cứu thị trường, mua hàng, dự trữ tồn kho, bán hàng và các dịch vụ đi kèm,.
một các chi tiết và kịp thời; thường xuyên phối hợp giữa thông tin thực hiện, thông tin quá khứ, thông tin dự toán tương lai sẽ giúp ích cho các nhà quản trị doanh nghiệp kiểm soát và hoàn thiện quy trình mua hàng, quản lý hàng tồn kho, bán hàng. Từ đó loại bỏ các hoạt động tốn kém chi phí, thiếu hiệu quả hoặc cải tiến các hoạt động, quy trình nhằm hạn chế chi phí phát sinh trong tương lai. Một trong những mục tiêu trọng yếu của bất cứ doanh nghiệp nào là tối đa hóa lợi nhuận và gia tăng giá trị doanh nghiệp.