CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN LÃI TRÊN CỔ PHIẾU 1. Khái quát về công ty cổ phần và vấn đề công bố thông tin trên báo cáo tài chính 1. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành nhằm huy động vốn của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
Trong công ty cổ phần, các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Công ty cổ phần là một trong những loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Khái niệm công ty cổ phần được xem đồng nghĩa với công ty đại chúng bởi cấu trúc, mục tiêu và tính chất của nó. Quy định trong một số bộ luật, trong đó Luật doanh nghiệp (công ty) ở các quốc gia ghi rõ công ty cổ phần cần có tối thiểu 3 cổ đông, bất kể đó là pháp nhân hay thể nhân. Tuy nhiên, các quy định đối với một công ty niêm yết thường yêu cầu công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều. Các quy định cụ thể của cả 6 sàn chứng khoán Hoa Kỳ đều cho thấy điều này, từ các sàn sơ khai như Pink Sheet, OTCBB, NASDAQ, NYSE; trong đó OTCBB yêu cầu công ty ít nhất có 40 cổ đông, còn NYSE lại yêu cầu công ty phải có ít nhất 2.
Để được niêm yết trên các sàn chứng khoán, các công ty cổ phần ngoài việc thỏa mãn các điều kiện về số lượng cổ đông, còn phải thỏa mãn các quy định về quy mô vốn điều lệ, kết quả kinh doanh của một số năm liền kề năm niêm yết. Điều này phụ thuộc vào quy định của các sàn chứng khoán và khác nhau ở mỗi quốc gia. Đồng thời để tránh tình trạng bị hủy niêm yết, các công ty cổ phần còn phải đảm bảo các yêu cầu về cung cấp thông tin, duy trì kết quả kinh doanh thuận lợi và đảm bảo lợi ích tối đa cho các cổ đông. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Vai trò của công ty cổ phần đối với nền kinh tế Sự ra đời của các công ty cổ phần thúc đẩy quá trình tự do hóa tài chính, tăng cường hợp tác và giao lưu kinh tế giữa các quốc gia Công ty cổ phần giúp cho quá trình phân bổ và điều tiết nguồn lực kinh tế từ nơi thừa sang nơi thiếu một cách hiệu quả hơn. Đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các công ty và hạn chế sự độc quyền, tập trung kinh tế ở một số các doanh nghiệp lớn gây ảnh hưởng không tốt tới nền kinh tế và cuộc sống của người dân Ngoài ra, sự ra đời của công ty cổ phần giúp thu hút vốn trong và ngoài nước, giúp tranh thủ khoa học công nghệ hiện đại, các hoạt động quản trị tiên tiến làm gia tăng tính đa dạng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm, tạo công ăn việc làm, giúp ổn định kinh tế vĩ mô. Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù, đã hạn chế được những tác động tiêu cực về kinh tế, xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng, hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro do thua lỗ, vì rủi ro được san sẻ cho nhiều cổ đông. Cơ chế phân bổ rủi ro này tạo điều kiện cho những người có vốn mạnh dạn đầu tư vào một công ty làm cho nền kinh tế phát triển và có xu hướng ổn định hơn.
Công ty cổ phần là trái tim của thị trường vốn và là cơ sở quan trọng để Nhà nước qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được các yêu cầu về quản lý vĩ mô. Các yêu cầu về công bố thông tin tài chính đối với công ty cổ phần niêm yết Công ty cổ phần niêm yết phải có trách nhiệm giải trình thông tin tài chính của mình với nhà đầu tư, chủ nợ, các đối tượng khác có liên quan. Thông tin tài chính mà công ty cổ phần cung cấp dưới dạng các báo cáo tài chính được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập có uy tín. Ngoài việc phát hành báo cáo tài chính năm theo luật kế toán của các quốc gia, còn phải thường xuyên cung cấp báo tài chính giữa niên độ là các báo cáo tài chính quý.
Theo IAS 1 Trình bày báo cáo tài chính, hệ thống báo cáo tài chính mà doanh nghiệp cần phải cung cấp bao gồm: - Báo cáo tình tài chính (Financial position statement) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 11 - Báo cáo thu nhập tổng hợp (Comprehensive income statement) - Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu (Changing in equity statement) - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement) - Thuyết minh báo cáo tài chính (Disclosure note) Hàng năm ngoài việc cung cấp báo cáo tài chính năm, công ty cổ phần còn phải phát hành báo cáo thường niên. Thông tin tài chính trên báo cáo thường niên được kiểm toán không được mâu thuẫn với báo cáo tài chính năm. Báo cáo thường niên cung cấp cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Đối với công ty cổ phần là công ty mẹ của một hoặc nhiều công ty con khác, ngoài cung cấp báo cáo tài chính riêng còn phải cung cấp báo cáo tài chính hợp nhất cho toàn bộ tập đoàn.
Sự hình thành và phát triển của chuẩn mực kế toán lãi trên cổ phiếu Sự cần thiết trong việc ban hành và phát triển chuẩn mực kế toán quốc tế về lãi trên cổ phiếu (IAS 33) xuất phát từ trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp nhận đầu tư với các cổ đông của mình. Đồng thời căn cứ trên nhu cầu thực tiễn của các nhà đầu tư trong việc dùng chỉ số này để đo lường hiệu quả đầu tư, cũng như phân tích, đánh giá triển vọng kinh doanh của các công ty cổ phần khi xem xét trong mối quan hệ tổng hòa với các chỉ số tài chính khác. Do đó, để có thể hiểu được lý do cho sự ra đời của chuẩn mực kế toán quốc tế về lãi trên cổ phiếu, chúng ta cần nắm được vai trò và ý nghĩa của chỉ số này cũng như khả năng ảnh hưởng của chỉ số tài chính này đến một số các tỷ số tài chính quan trọng khác trong quá trình phân tích đầu tư. Vai trò và ý nghĩa của chỉ tiêu lãi trên cổ phiếu Theo IAS 33, lãi trên cổ phiếu là một chỉ số đầu tư dùng để đo lường và phản ảnh toàn bộ lợi nhuận được tạo ra tính trên một cổ phiếu trong một khoảng thời gian cụ thể.
Hay nói cách khác lãi trên cổ phiếu thể hiện cứ một cổ phiếu được hưởng bao nhiêu đồng lợi nhuận. Ngoài ra chỉ số này còn được dùng trong việc so sánh liên công ty, là một thành phần chính trong việc tính toán chỉ số giá trên thu nhập (P/E) và cũng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 12 Lãi trên cổ phiếu Lãi (lỗ) phân bổ cho cổ phiếu phổ thông (EPS) Số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành bình quân dùng để đo lường xu hướng thay đổi của lợi nhuận. IAS 33 đã đưa ra công thức tính lãi trên cổ phiếu như sau: 1. Mối quan hệ giữa chỉ tiêu lãi trên cổ phiếu và các chỉ số tài chính khác Chỉ tiêu lãi trên cổ phiếu có mối quan hệ mật thiết với các chỉ sổ tài chính sau: Chỉ số giá trên thu nhập Giá trên thu nhập Giá thị trường trên mỗi cổ phiếu (P/E) Lãi trên cổ phiếu Chỉ số này đo lường giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Chỉ số P/E là chỉ số tốt nhất để đo lường mức độ cảm nhận của thị trường về giá trị của doanh nghiệp và được phản ảnh thông qua giá trị cổ phiếu so với giá bình quân của thị trường hoặc các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề. Một chỉ số P/E cao thể hiện sẽ có nhiều các nhà đầu tư sẵn sàng trả một mức giá cao hơn cho thu nhập của công ty và cũng chính là sự kỳ vọng cao hơn vào thu nhập trong tương lai của doanh nghiệp. Ngược lại được áp dụng khi chỉ số P/E thấp. Chỉ số khả năng chi trả cổ tức Khả năng chi trả cổ Lãi trên cổ phiếu tức Cổ tức trên cổ phiếu Chỉ số này thể hiện lợi nhuận có thể trả được bao nhiêu lần cổ tức.
Nhà đầu tư luôn tìm kiếm một khoản thu nhập trên cổ phiếu của họ, và sẽ là thông tin xấu nếu công ty không có thu nhập để trả cổ tức hoặc cổ tức được trả vượt quá lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được. Tuy nhiên, nhà đầu tư luôn tìm kiếm các cơ hội trong việc tăng trưởng vốn của họ trong tương lai và điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình. Do đó, việc chi trả cổ tức bằng bao nhiêu để khuyến khích được nhà đầu tư và để dung hòa với mục tiêu phát triển và tăng trưởng trong tương lai phụ thuộc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 13 rất nhiều vào chính sách cổ tức của mỗi doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển của mình. Lịch sử về quá trình hình thành và phát triển chuẩn mực lãi trên cổ phiếu (IAS 33) Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, cũng như mong muốn cụ thể hóa và chuẩn hóa về nội dung và phương pháp tính, làm cơ sở cho sự so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề cũng như doanh nghiệp giữa các quốc gia, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB: International Accouting Standard Board) lần đầu tiên đã đưa ra bản dự thảo E33 Lãi trên cổ phiếu vào tháng 1 năm 1996.
Và sau đó, đến tháng 2 năm 1997 chuẩn mực kế toán quốc tế đầu tiên về Lãi trên cổ phiếu được ban hành, bắt đầu có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 1999.