Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí môi trường trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí môi trường tại Công ty CPĐTXD bê tông Huy Hoàng. Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí môi trường tại Công ty CPĐTXD bê tông Huy Hoàng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nhận diện chi phí môi trường trong doanh nghiệp Theo Ủy ban phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD, 2001): “Chi phí môi trường có thể hiểu là các chi phí gắn với thiệt hại môi trường và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. Chi phí này bao gồm các chi phí để ngăn ngừa, tiêu hủy, lập kế hoạch, kiểm soát, thay đổi hành động và khắc phục những thiệt hại có thể xảy ra ở công ty và ảnh hưởng tới chính phủ và mọi người”. Theo Sổ tay kế toán CPMT do Bộ môi trường Áo (Austria) công bố năm 1997: “Chi phí môi trường là các chi phí phát sinh do các hoạt động môi trường trong doanh nghiệp nó không những bao gồm chi phí của các hoạt động bắt buộc và tự nguyện nhằm giảm thiểu, ngăn ngừa, xử lý chất thải và chất ô nhiễm cho môi trường mà còn là phần thiệt hại mà doanh nghiệp phải gánh chịu do không xây dựng được chính sách môi trường”.
Bộ môi trường Cộng hòa Liên bang Đức (FEM, 2003) cho rằng: “Chi phí môi trường là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các loại chi phí khác nhau có liên quan tới quản lý môi trường, các biện pháp bảo vệ môi trường và các tác động môi trường. Các chi phí này có nguồn gốc từ các yếu tố chi phí, các bộ phận và mục đích sử dụng khác nhau”. Mặc dù CPMT được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng qua các khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm đáng chú ý về bản chất của CPMT trong DN chuyên sản xuất bê tông thương phẩm: - CPMT gắn với HĐBVMT của DN. Chi phí này phát sinh khi DN thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và bao gồm chi phí lãng phí trong sản xuất - kinh doanh, chi phí của chất thải và xử lý chất thải, chi phí ngăn ngừa, tiêu hủy, lập kế hoạch, kiểm soát và khắc phục những thiệt hại môi trường có thể xảy ra tại DN.
8 - CPMT là một trong nhiều loại chi phí phát sinh mà DN phải chấp nhận, phải chi trả khi thực hiện sản xuất - kinh doanh và chi phí này có thể được vốn hóa hoặc tính vào chi phí thời kỳ. - Thông tin CPMT cũng được đo lường, xử lý tương tự như những thông tin chi phí khác, phục vụ cho việc ra quyết định của DN. - CPMT có thể bù đắp lại từ các khoản thu được từ việc bán các sản phẩm chính, sản phẩm phụ, phế thải, phần thưởng từ việc chống ô nhiễm hoặc qua việc cấp giấy phép cho công nghệ sản xuất sạch hơn. Phân loại CPMT phục vụ công tác kiểm soát CPMT trong DN Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả tiến hành phân loại CPMT theo dòng vật liệu và năng lượng để phù hợp với ngành nghề sản xuất bê tông thương phẩm của đơn vị mình.
Theo dòng vật liệu và năng lượng thì CPMT không chỉ đơn thuần là các chi phí liên quan đến xử lý chất thải mà còn gồm cả chi phí cho vật liệu và chế biến chất thải. UNDSD (2001) và IFAC (2005) đều phân loại CPMT theo cách thức này, tuy nhiên điểm khác biệt giữa chúng đó là UNDSD chỉ coi chi phí vật liệu của chất thải là một bộ phận của CPMT còn IFAC coi chi phí vật liệu cho sản phẩm cũng là thành phần của CPMT. Theo tác giả cách tiếp cận của UNDSD là phù hợp hơn vì thế phân loại CPMT theo dòng vật liệu được tác giả tổng hợp trong bảng 1. Phân loại CPMT theo dòng vật liệu Khoản mục Nội dung Các chi phí xử lý rác thải, đền bù thiệt hại MT và các chi phí Chi phí xử lý chất để kiểm soát chất thải theo cam kết pháp luật như: Khấu hao thải và phát thải thiết bị, chi phí vật liệu, dịch vụ; Chi phí nhân công, phí, thuế, gồm lệ phí, khoản phạt và bồi thường, bảo hiểm MT, các khoản trợ cấp khắc phục và làm sạch MT.
Các chi phí để ngăn ngừa ô nhiễm và quản lý MT (lập kế hoạch, hệ thống, thiết bị, truyền thông và các hoạt động quản Chi phí ngăn ngừa lý khác) như chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ quản lý MT và quản lý ô nhiễm (tư vấn, đào tạo, kiểm toán, truyền thông), chi phí nhân công MT gồm cho các hoạt động quản lý MT nói chung, chi phí nghiên cứu và phát triển các dự án về MT, các khoản chi tăng thêm do công nghệ sản xuất sạch hơn, các chi phí quản lý MT khác. Chi phí mua vật liệu cho việc sản xuất các đầu ra phi sản phẩm Chi phí vật liệu của như: nguyên liệu, bao bì, vật liệu phụ, năng lượng, nước và chi chất thải phí chế biến nằm trong các đầu ra phi sản phẩm gồm chi phí khấu hao, nhân công, dịch vụ mua ngoài… Nguồn: IFAC (2005) Cách phân loại này cho thấy CPMT thực tế cao hơn nhiều so với nó thường được nhìn nhận bởi kế toán truyền thống từ đó làm thay đổi nhận thức của nhà quản trị đối với CPMT: Chi phí gắn với chất thải không nhỏ như mọi người thường nghĩ mà nó thực sự lớn. Từ đó giúp cho nhà quản trị ý thức được lợi ích của việc sản xuất sạch hơn và có những quyết định đầu tư hợp lý để tiết kiệm các nguồn lực tự nhiên và giảm chất thải vào MT. Thông tin phục vụ kiểm soát CPMT Để có thông tin về chi phí sản xuất, kế toán phải tập hợp các chứng từ gốc phát sinh chi phí sản xuất.
Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, kế toán cập nhật hằng ngày khi có nghiệp vụ phát sinh và hạch toán vào các tài 10 khoản quy định, đồng thời theo dõi ở các sổ chi tiết, sổ tổng hợp. Đối với chi phí sản xuất chung, cuối kỳ kế toán tập hợp theo từng bộ phận hoạt động. Chính vì CPMT thường ẩn trong các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí xản xuất chung, chi phí quản lý DN nên để kiểm soát được CPMT thì phải kiểm soát được các khoản mục mà CPMT ẩn trong đó bằng cách: a. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán Cũng như các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại DN, toàn bộ các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí xản xuất chung, chi phí quản lý DN đều phải lập chứng từ kế toán.
Chứng từ kế toán chỉ lập một lần cho nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Nội dung các chứng từ kế toán phải đầy đủ các chỉ tiêu, trung thực, rõ ràng, không tẩy xóa, không viết tắt, số tiền bằng số và số tiền bằng chữ phải trùng nhau. Tất cả các chứng từ liên quan đến các khoản chi phí trên phải có đầy đủ chữ kí trực tiếp của các nhân viên có liên quan (không phải chữ kí phô tô), trường hợp các chứng từ cần đóng dấu của DN như séc, phiếu chi phải đóng dấu phù hợp với mẫu đã đăng kí tại cơ quan có liên quan. Kế toán trưởng có vai trò tổ chức và hướng dẫn cho bộ phận kế toán lập chứng từ phù hợp với yêu cầu tập hợp chi phí.
Tổ chức sổ kế toán và hệ thống tài khoản kế toán Mỗi một DN chỉ có một hệ thống sổ kế toán chính thức và duy nhất cho một kì kế toán năm. Căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán áp dụng và yêu cầu quản lý, DN mở đủ sổ kế toán cần thiết. Để đáp ứng nhu cầu thông tin, hệ thống sổ kế toán dùng ghi chép, tập hợp chi phí sản xuất cũng được tổ chức thành hai bộ phận là sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết. Tổ chức hệ thống báo cáo về CPMT Nếu như hệ thống báo cáo về chi phí sản xuất được tổ chức để đáp ứng nhu cầu kiểm soát về chi phí sản xuất thì hệ thống báo cáo về CPMT sẽ giúp các nhà quản lý DN kiểm soát được CPMT ẩn trong chi phí sản xuất kinh doanh của DN và đưa ra các biện pháp quản lý hữu hiệu.
Các thủ tục kiểm soát CPMT 11 Trong giới hạn của luận văn này, tác giả đa phần tập trung vào kiểm soát CPMT trong khoản mục chi phí sản xuất chung (CPSXC). Mục tiêu của việc kiểm soát CPSXC - Tổng CPSXC thực tế phát sinh nhỏ hơn so với dự toán CPSXC. - Đảm bảo hiệu quả việc quản lý thời gian lao động của nhân viên quản lý trạm sản xuất, tổ, đội. - Theo dõi, phân bổ công cụ dụng cụ xuất dùng ở trạm sản xuất, tổ, đội vào CPSXC được hợp lý, chính xác.
- Đảm bảo độ tin cậy của các thông tin liên quan đến CPSXC. - CPSXC là có thật, được ghi chép đầy đủ, chính xác, hợp lý, tuân thủ chế độ kế toán hiện hành. Kiểm soát CPSXC là kiểm soát các nội dung sau: - Quy trình kiểm soát chi phí nhân công quản lý thể hiện ở khâu tính lương và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn, kinh phí công đoàn. - Quy trình xuất công cụ dụng cụ sử dụng, theo dõi xuất dùng một hay nhiều lần cần phải có chứng từ phân bổ giá trị công cụ dụng cụ xuất dùng vào chi phí cho cụ thể, chính xác, hợp lý.
- Quy trình quản lý, theo dõi việc sử dụng tài sản cố định (TSCĐ) thể hiện qua bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ: Căn cứ vào bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ kế toán tiến hành hạch toán, ghi sổ và phân bổ chính xác cho đúng đối tượng chịu chi phí. - Kiểm soát chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác: Có chứng từ đầy đủ và có sự phê duyệt của những người có thẩm quyền. Thủ tục kiểm soát chi phí nhân công phụ trách các công việc liên quan đến HĐBVMT Chi phí nhân công (CPNC) trạm trộn bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của bộ phận quản lý phân xưởng, nhân viên kỹ thuật và các công nhân phục vụ các HĐBVMT. Lương của nhân viên phân xưởng là lương theo thời gian.
Các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) được trích tương tự như đối với nhân viên trực tiếp sản xuất.