Tổng quan nghiên cứu
Trong chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam, xuất khẩu đóng vai trò là động lực then chốt nhằm gia tăng nguồn thu ngoại tệ, mở rộng thị trường và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động. Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu này, chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước đã được triển khai tập trung qua kênh Quỹ Hỗ trợ phát triển từ năm 2001 và sau đó được chuyển đổi thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam vào tháng 5 năm 2006. Giai đoạn 2001 đến 2006 ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc về doanh số cho vay ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu, từ 167 tỷ đồng trong năm 2001 vọt lên mức đỉnh 10.755 tỷ đồng vào năm 2005.
Tuy nhiên, sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào đầu năm 2007 đã đặt ra bài toán cấp bách về việc xóa bỏ các hình thức trợ cấp xuất khẩu trực tiếp theo Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng. Thực tiễn này đòi hỏi hoạt động tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải chuyển đổi toàn diện theo khuôn khổ Nghị định số 151/2006/NĐ-CP để vừa tuân thủ cam kết quốc tế, vừa duy trì vai trò trợ lực cho doanh nghiệp nội địa. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng cấp tín dụng xuất khẩu tại hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam từ năm 2001 đến ngày 31 tháng 3 năm 2008 trên phạm vi toàn quốc với mạng lọc gồm 2 Sở giao dịch và 61 Chi nhánh cấp tỉnh.
Mục tiêu cốt lõi của đề tài là phân tích các chỉ tiêu tăng trưởng, đánh giá cơ chế quản lý rủi ro và quy trình nghiệp vụ trên mẫu khảo sát 51 doanh nghiệp xuất khẩu. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đề xuất các giải pháp hoàn thiện công cụ tài chính, giúp duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức an toàn dưới 3,44% và tối ưu hóa nguồn vốn chính sách cho các ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter kết hợp cùng mô hình 3 giai đoạn phát triển của Trung tâm Thương mại Quốc tế, bao gồm: giai đoạn dựa vào tài nguyên sẵn có, giai đoạn dựa vào đầu tư và giai đoạn dựa vào đổi mới công nghệ và quản lý. Bên cạnh đó, luận văn sử dụng lý thuyết tín dụng Nhà nước như một công cụ tài chính phi lợi nhuận nhằm khắc phục các khiếm khuyết của thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn chi phí hợp lý.
Các chuẩn mực quốc tế mang tính chi phối bao gồm Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của Tổ chức Thương mại Thế giới, Thỏa thuận về tín dụng xuất khẩu chính thức của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế và các quy tắc tín dụng của Liên minh Berne. Khung lý thuyết làm rõ 5 khái niệm nghiệp vụ cốt lõi: tín dụng xuất khẩu trước và sau khi giao hàng, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và bao thanh toán xuất khẩu. Theo quy định của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, mức lãi suất cho vay tối thiểu phải căn cứ trên Lãi suất thương mại tham chiếu cộng biên độ 1%, đồng thời mức tài trợ chính thức của Nhà nước không được vượt quá 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu sau khi người mua đã trả trước tối thiểu 15%.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra sơ cấp để đảm bảo tính chuẩn xác và khách quan. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Quỹ Hỗ trợ phát triển trong suốt giai đoạn 2001 đến hết quý 1 năm 2008.
Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện chọn mẫu điều tra khảo sát với cỡ mẫu gồm 51 doanh nghiệp đang trực tiếp vay vốn tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu mục tiêu kết hợp thuận tiện được áp dụng nhằm bao quát đầy đủ 4 thành phần kinh tế: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn và Doanh nghiệp tư nhân thuộc các ngành hàng thế mạnh như thủy sản, cà phê, dệt may và cơ khí.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ tăng trưởng và phân tích chuỗi thời gian là nhằm phản ánh chân thực động thái biến động dòng vốn qua từng năm. Đồng thời, kỹ thuật phân tích tổng hợp từ phiếu khảo sát 51 đơn vị giúp lượng hóa các trở ngại về tài sản bảo đảm, thủ tục giải ngân và hạn mức vay mà doanh nghiệp đang gặp phải.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, doanh số cho vay ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 2001 đến 2005 nhưng suy giảm rõ rệt vào năm 2006. Năm 2001, doanh số giải ngân mới đạt 167 tỷ đồng với 85 khoản vay, đến năm 2002 đã tăng vọt lên 3.006 tỷ đồng, vượt 67% kế hoạch giao. Năm 2004, doanh số tiếp tục tăng 61% so với năm 2003 và đạt mức kỷ lục 10.755 tỷ đồng vào năm 2005, tăng 6% so với năm 2004. Tuy nhiên, sang năm 2006, tổng doanh số sụt giảm 23% xuống còn 8.248 tỷ đồng do yêu cầu rà soát danh mục mặt hàng đáp ứng cam kết quốc tế.
Thứ hai, cơ cấu vốn vay phân theo mặt hàng cho thấy sự tập trung cao vào nhóm nông - lâm - thủy sản truyền thống. Ngành thủy hải sản duy trì vị thế dẫn đầu với doanh số tăng từ 54 tỷ đồng năm 2001 lên 1.566 tỷ đồng năm 2002. Ngành cà phê có bước nhảy vọt từ 14 tỷ đồng năm 2001 lên 900 tỷ đồng năm 2005 và đạt 1.144 tỷ đồng năm 2006. Đáng chú ý, ngành đóng tàu xuất khẩu xuất hiện từ năm 2004 với 763 tỷ đồng và vọt lên 1.030 tỷ đồng vào năm 2005.
Thứ ba, tỷ lệ nợ quá hạn được kiểm soát tương đối tốt nhưng bắt đầu gia tăng vào cuối chu kỳ khảo sát. Tỷ lệ nợ quá hạn từ mức 0% năm 2001 tăng lên 0,86% năm 2002, giữ ở mức 1,73% năm 2005 và tăng lên 3,44% vào năm 2006 trên tổng dư nợ bình quân 2.977 tỷ đồng.
Thứ tư, mặt bằng lãi suất cho vay ưu đãi được điều chỉnh từng bước theo hướng tiếp cận thị trường: từ mức 0,36%/tháng trong giai đoạn 2001 đến tháng 5 năm 2004, tăng lên 0,44%/tháng trong giai đoạn tháng 5 năm 2004 đến tháng 7 năm 2005, và đạt mức 0,52%/tháng từ tháng 7 năm 2005 đến tháng 1 năm 2007, tương đương bằng 80% lãi suất tín dụng đầu tư phát triển.
Thảo luận kết quả
Sự biến động doanh số giải ngân bắt nguồn từ quá trình chuyển giao thể chế và điều chỉnh chính sách. Giai đoạn 2001 đến 2005 hoạt động theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg với 14 nhóm mặt hàng được hỗ trợ lãi suất trực tiếp, tạo lực đẩy giải ngân mạnh. Khi chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2006, việc thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg và chuyển sang áp dụng Nghị định số 151/2006/NĐ-CP đã thu hẹp một số đối tượng trợ cấp, điển hình là tạm dừng cho vay mặt hàng gạo thương mại thông thường.
Khi so sánh với mô hình tài trợ xuất khẩu tại Hàn Quốc thông qua Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc và Quỹ Bảo lãnh Tín dụng Hàn Quốc, hoặc Eximbank Thái Lan, hoạt động tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế. Nghiệp vụ chủ yếu vẫn là cho vay người bán ngắn hạn, trong khi hình thức tín dụng người mua và dịch vụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chưa được triển khai đồng bộ. Yêu cầu tài sản bảo đảm tối thiểu 15% theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP dù đã giảm so với mức 30% trước đây nhưng vẫn là rào cản đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các số liệu nghiên cứu trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng phân tích cơ cấu doanh số 14 nhóm mặt hàng qua 6 năm và biểu đồ đường kết hợp cột thể hiện tương quan giữa mức tăng trưởng doanh số giải ngân với biến động tỷ lệ nợ quá hạn từ 0% lên 3,44%.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, chuẩn hóa và rút ngắn quy trình thẩm định cho vay đối với nhà xuất khẩu. Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần hoàn thiện phần mềm quản trị tín dụng nội bộ, phấn đấu rút ngắn thời hạn thẩm định đối với các khoản vay từng lần xuống tối đa 3 ngày làm việc tại Chi nhánh và 2 ngày làm việc tại Hội sở chính, đối với hạn mức tín dụng tối đa 5 ngày làm việc. Mục tiêu giải quyết 100% hồ sơ đúng hạn, thực hiện liên tục từ quý 4 năm 2008 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Giám đốc và Ban Tín dụng Xuất khẩu.
Thứ hai, đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng và nghiên cứu triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Ban Điều hành Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng đề án cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu nước ngoài với mức tài trợ tối đa 85% giá trị hợp đồng thương mại. Đồng thời, thiết lập cơ chế tái bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trong lộ trình 2008 đến 2010 nhằm phân tán rủi ro cho các doanh nghiệp thâm nhập thị trường mới.
Thứ ba, điều chỉnh cơ chế lãi suất cho vay phù hợp với nguyên tắc Lãi suất thương mại tham chiếu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. Hội đồng Quản lý Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần xây dựng lãi suất tham chiếu định kỳ căn cứ vào lợi tức trái phiếu Chính phủ cộng biên độ rủi ro tối thiểu 1%, đảm bảo mức lãi suất phản ánh đúng chi phí vốn nội địa, không vi phạm quy định trợ cấp bị cấm của Tổ chức Thương mại Thế giới, hoàn thành triển khai trong năm 2009.
Thứ tư, tăng cường quản trị rủi ro nợ xấu và mở rộng hợp tác quốc tế. Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần nâng mức trích lập quỹ dự phòng rủi ro hàng năm từ mức trần 0,2% trên dư nợ bình quân lên tỷ lệ tương thích với chuẩn mực ngân hàng thương mại, đồng thời chủ động gia nhập Liên minh Berne trước năm 2010 để khai thác cơ sở dữ liệu tín nhiệm doanh nghiệp toàn cầu.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là Ban Lãnh đạo, cán bộ thẩm định và chuyên viên tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng các ngân hàng thương mại. Luận văn cung cấp toàn bộ quy trình cho vay trước và sau giao hàng, các căn cứ xác định tài sản bảo đảm 15% và bài học kiểm soát nợ quá hạn để áp dụng trực tiếp vào nghiệp vụ xử lý hồ sơ vay vốn xuất khẩu.
Nhóm thứ hai là các chủ doanh nghiệp và giám đốc tài chính của các công ty xuất nhập khẩu. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm rõ các tiêu chí hưởng chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước, quy trình lập hồ sơ hợp đồng xuất khẩu và chứng từ thanh toán nhằm tối ưu hóa chi phí vốn vay ngắn hạn đối với các ngành hàng nông sản, dệt may và cơ khí.
Nhóm thứ ba là các chuyên gia hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế biểu phí, sửa đổi Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và xây dựng khung khổ pháp lý cho hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phù hợp luật chơi quốc tế.
Nhóm thứ tư là các giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế Quốc tế. Đây là nguồn tài liệu học thuật giá trị về lý thuyết tài trợ thương mại, nguyên tắc của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế và thực tiễn vận hành ngân hàng chính sách tại các nền kinh tế đang phát triển.
Câu hỏi thường gặp
Bản chất khác biệt giữa tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và tín dụng xuất khẩu của ngân hàng thương mại là gì?
Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước là hoạt động tài chính phi lợi nhuận nhằm thực hiện các mục tiêu vĩ mô, hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào và nâng cao sức cạnh tranh. Điểm khác biệt lớn nằm ở nguồn vốn do Chính phủ bố trí kế hoạch, lãi suất ưu đãi bằng khoảng 80% lãi suất tín dụng đầu tư và yêu cầu tài sản bảo đảm chỉ từ 15% giá trị khoản vay, thấp hơn nhiều so với mức bảo đảm 100% tại các ngân hàng thương mại.
Quy định về bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam tạo thuận lợi gì cho doanh nghiệp?
Theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, chủ đầu tư chỉ phải sử dụng tài sản hợp pháp để bảo đảm tiền vay với giá trị tối thiểu bằng 15% tổng mức vay vốn, giảm một nửa so với quy định 30% trước đây. Đối với các khoản cho vay sau khi giao hàng, doanh nghiệp có thể sử dụng trực tiếp bộ chứng từ hàng xuất hoàn hảo để bảo đảm, giúp giải phóng áp lực thế chấp bất động sản.
Tại sao Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải chuyển đổi mô hình hoạt động sau khi gia nhập WTO năm 2007?
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO nghiêm cấm các biện pháp trợ cấp tài chính trực tiếp gắn liền với kết quả xuất khẩu. Do đó, các chương trình hỗ trợ lãi suất ngắn hạn dàn trải của Quỹ Hỗ trợ phát triển trước đây buộc phải chuyển đổi sang cơ chế tín dụng chính sách minh bạch tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, tuân thủ các điều khoản chuẩn mực quốc tế.
Cơ chế Lãi suất thương mại tham chiếu theo quy định của OECD được hiểu như thế nào?
Lãi suất thương mại tham chiếu được xây dựng dựa trên lợi tức trái phiếu Chính phủ dài hạn kỳ hạn 3 năm, 5 năm hoặc 7 năm cộng thêm biên độ tối thiểu 1%. Mức lãi suất này đại diện cho chi phí huy động vốn thương mại tối ưu tại thị trường nội địa, giúp hoạt động tín dụng xuất khẩu chính thức không bị coi là trợ cấp thương mại bất hợp pháp theo quy tắc quốc tế.
Doanh nghiệp cần đáp ứng những điều kiện cơ bản nào để được cấp hạn mức tín dụng xuất khẩu tại VDB?
Doanh nghiệp phải có tư cách pháp nhân hợp pháp, có hợp đồng xuất khẩu ký kết với đối tác nước ngoài hoặc thư tín dụng hợp lệ, phương án sản xuất kinh doanh khả thi có lãi và mặt hàng xuất khẩu phải nằm trong danh mục khuyến khích được Chính phủ ban hành. Ngoài ra, doanh nghiệp phải đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 15% và không có nợ xấu khó đòi.
Kết luận
- Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước đã chứng minh vai trò đòn bẩy vĩ mô đặc biệt quan trọng, giúp mở rộng quy mô giải ngân từ 167 tỷ đồng năm 2001 lên mức đỉnh 10.755 tỷ đồng vào năm 2005.
- Quá trình tái cấu trúc Quỹ Hỗ trợ phát triển thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam vào tháng 5 năm 2006 theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg đã tạo tiền đề pháp lý vững chắc cho việc chuyên nghiệp hóa nghiệp vụ tài trợ thương mại.
- Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đặt ra yêu cầu tất yếu phải chuẩn hóa lãi suất theo quy tắc Lãi suất thương mại tham chiếu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế và từng bước bãi bỏ các hình thức trợ cấp vi phạm Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng.
- Nghiên cứu thực nghiệm trên 51 doanh nghiệp chỉ ra sự cấp thiết của việc đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ xuống 3 đến 5 ngày và đa dạng hóa sang các sản phẩm tín dụng người mua và bảo lãnh thương mại.
- Hệ thống giải pháp đồng bộ về công nghệ, chính sách lãi suất và quản trị rủi ro nợ quá hạn dưới mức 3,44% sẽ định hình bước tiến chiến lược cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động tín dụng xuất khẩu chính sách trong giai đoạn bản lề chuyển đổi kinh tế của Việt Nam. Để phát huy tối đa giá trị nghiên cứu, các cơ quan hữu quan cần nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và triển khai số hóa 100% quy trình thẩm định trước năm 2010. Độc giả quan tâm và các nhà nghiên cứu tài chính có thể ứng dụng ngay các phát hiện và khung phân tích của luận văn để mở rộng nghiên cứu sang các công cụ tài trợ chuỗi cung ứng quốc tế hiện đại.